Monday, March 21, 2011

Những điều bạn cần biết về thảm họa hạt nhân của Nhật Bản

Ars Technica vừa có một bài viết rất hay cung cấp cho chúng ta những thông tin tổng quan về những gì đang diễn ra trong lò phản ứng hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản và phương thức các lò này hoạt động. Tinhte.vn xin phép được dịch bài viết này để các bạn gạt bỏ những lo ngại vô căn cứ do tình trạng thiếu thông tin hoặc có những thông tin sai lệch trước đây.



Nhà máy Fukushima Daiichi những ngày chưa xảy ra tai nạn

Đâu là bản chất của phản ứng hạt nhân?
Các phản ứng hạt nhân xảy ra bởi sự phân tách các nguyên tố phóng xạ, chủ yếu là uranium. Có rất nhiều sản phẩm được tạo ra sau các phản ứng này nhưng chỉ có 1 sản phẩm tạo ra được năng lượng chính là nhiệt độ. Người ta đã sử dụng nhiều cách để tạo ra năng lượng từ nhiệt độ nhưng phương pháp phổ biến nhất lại tương tự với nguyên tắc của một đầu máy hơi nước cổ điển: dùng nhiệt lượng thu được đun sôi nước và sử dụng áp lực thu được này để chạy máy phát điện.

Các hiện tượng phóng xạ làm cho việc tạo năng lượng đơn giản hơn và cũng phức tạp hơn. Vì sao lại đơn giản hơn? sự phân tách hạt nhân sẽ được thực hiện dưới nước, chính vì vậy người ta chỉ cần đưa những nhiên liệu hạt nhân vào nước là đã có thể tạo ra nhiệt lượng.

Tuy nhiên, hiện tượng phóng xạ cũng rất phức tạp và rất khó được kiểm soát. Cho dù nguyên liệu được giữ trong những thanh kín nhưng không gì có thể ngăn cản dòng nước chảy vào sẽ mang theo một số chất đồng vị phóng xạ, hệ quả là bạn sẽ không thể xả dòng nước này ra ngoài môi trường mà buộc phải giữ kín nó trong một vòng tuần hoàn khép kín. Nước và các thanh nhiên liệu được giữ kín dưới áp suất cao trong hàng loạt các đường ống được kết nối với nhau để tạo ra hơi nước hoặc nước nóng cho máy phát điện hoạt động, sau đó chúng sẽ được phun trở lại lõi của lò phản ứng để giữ cho lò luôn mát.

Việc phun nước trở lại lò phản ứng hoàn toàn không tạo ra năng lượng nhưng nó là một quy trình bắt buộc để giữ cho lò hoạt động bình thường. Nếu không kiểm soát được vấn đề này, nhiệt độ trong nhân sẽ tăng một cách nhanh chóng, làm tan chảy nhiên liệu và các kết cấu bao bọc.

Phản ứng phân tách:



Uranium nguyên chất

Về phần mình, các đồng vị uranium sử dụng trong phản ứng hạt nhân sẽ bị phân hủy chậm chạp để tạo ra những nhiệt lượng rất nhỏ. Chính sản phẩm của sự phân hủy là neutron mới tạo ra năng lượng chứ bản thân uranium không tự thực hiện việc này. Neutron được tạo ra từ sự phân hủy của uranium sẽ tác động làm cho các nguyên tử khác chia tách, tiếp tục tạo ra những neutron khác và cứ thế để làm tăng mật độ neutron lên. Đến mục lúc nào đó, chuỗi sản phẩm neutron-neutron này quá dày đặc và sẽ tạo ra một vụ nổ hạt nhân. Tuy nhiên, chừng nào còn ở trong lò phản ứng thì vụ nổ này hoàn toàn không nguy hiểm vì mật độ nguyên liệu vẫn được giữ ở mức thấp. Hơn nữa, tốc độ phân tách hoàn toàn có thể được kiểm soát bằng cách thêm vào hay bỏ bớt các thanh chứa những nguyên tố hút neutron như boron.

Cho dù vậy, việc kiểm soát sự phân tách uranium ở những pha sau của phản ứng cũng không gây ảnh hưởng đến những sản phẩm đã tạo ra trong các pha đầu. Rất nhiều các nguyên tố được tạo ra từ sự phân tách uranium cũng là các chất phóng xạ và chúng tự động phân tách mà không cần sự can thiệp của các neutron. Các neutron từ uranium thậm chí còn có thể bị hấp thụ bởi các nguyên tử khác hoặc dòng nước làm lạnh lò hạt nhân, biến đổi chúng thành các đồng vị phóng xạ. Hầu hết các chất phóng xạ phát sinh này sẽ tự phân hủy chỉ trong vài ngày nên nó không phải là một vấn đề lớn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải cẩn thận vì kể cả khi phản ứng hạt nhân bị ngắt bởi các thanh điều khiển thì lượng phóng xạ còn lại vẫn còn đủ để chúng nóng trong một thời gian dài nữa.

Tất cả những lý do trên làm cho hệ thống làm lạnh trở nên cực kỳ cần thiết với một nhà máy điện hạt nhân. Tiếc rằng hệ thống ở nhà máy Fukushima Daiichi lại gặp quá nhiều rắc rối và hoạt động không như mong đợi.

Sống sót qua cơn động đất nhưng sóng thần đã dập nát tất cả:
Vì hệ thống làm lạnh mang ý nghĩa sống còn, các kỹ sư thiết kế đã phải tạo ra nhiều lớp dự phòng khác nhau nhằm bảo đảm các máy bơm nước hoạt động liên tục. Trong trường hợp phản ứng hạt nhân bị ngắt bên trong thì hệ thống máy bơm vẫn có thể hoạt động nhờ vào năng lượng dự phòng bên ngoài. Tiếc rằng trận động đất 9 độ richte đã làm phá sản kế hoạch này, cách ly nhà máy Fukushima với mọi nỗ lực kết nối nguồn điện bên ngoài. Trận động đất này cũng đồng thời làm tắt các phản ứng hạt nhân, ngắt nguồn điện cần thiết để máy bơm hoạt động. Khi này, các kỹ sư phải kích hoạt hệ thống dự phòng cho phép đốt nguyên liệu hóa thạch (diezen)nhằm tạo cung cấp năng lượng cho máy bơm.

Thật đáng tiếc, bước dự phòng này chỉ tồn tại được vài phút trước khi cơn sóng thần ập vào và làm ngập toàn bộ hệ thống. Pin được đưa vào để thực hiện các biện pháp dự phòng trước đó nhưng nó cũng thất bại, không thể giúp máy bơm ở Fukushima hoạt động. Các máy phát điện bổ sung cũng không thể chuyển đến kịp thời vì phạm vi của thảm họa là quá rộng và chúng cũng không thể kích hoạt máy bơm hoạt động trở lại.

Hệ quả như chúng ta đã biết, cho dù hầu hết các phản ứng uranium đã bị ngắt ngay sau trận động đất nhưng nhân của nó vẫn tiếp tục nóng lên vì sự phân hủy từ đồng vị phóng xạ được tạo ra qua những phản ứng trước đó, điều mà chúng ta đã nhắc ở trên.

Những khả năng xấu:
Không có thể thống giải nhiệt, có rất nhiều khả năng xấu sẽ xảy ra với các lò phản ứng hạt nhân. Nhiệt lượng từ lò tỏa ra sẽ làm nước nóng lên, tạo ra hơi nước bên trong bình chứa, nâng cao áp lực và có thể làm vỡ bình ở một điểm nào đó. Tuy lớp bảo vệ bên ngoài vẫn có thể giới hạn sự phát tán các nhiên liệu hạt nhân ra ngoài nhưng sự đứt vỡ này vẫn có thể làm hỏng tất cả mọi hy vọng phục hồi hệ thống làm lạnh. Trong trường hợp xấu nhất thì toàn bộ lõi của lò phản ứng chứa các thanh nhiên liệu hạt nhân sẽ phơi bày ra ngoài không khí mà không còn được nước bao bọc nữa.

Khi đã “phơi” ra ngoài không khí, nhiệt độ của lõi hạt nhân sẽ càng tăng cao nữa vì không khí không thể giải nhiệt tốt như nước. Đến một lúc nào đó, nhiệt độ đạt 2865 độ C thì nhân bên trong sẽ bắt đầu bị nóng chảy. Một trong những hậu quả khác của việc các lõi hạt nhân phơi bày trong không khí là lớp bảo vệ Zirconium của các thanh nhiên liệu có thể bị phản ứng với hơi nước, giảm sự nguyên chất của chúng và tạo ra hydro.



Hình minh họa hơi nước và 1 phần cấu trúc của lò phản ứng

Người ta đã sử dụng 2 phương thức để xử lý vấn đề này, đầu tiên là bơm nước biển vào để giải nhiệt cho hệ thống làm lạnh trong lò. Tuy nhiên, đây là một điều đặng chẳng đừng vì nước biển sẽ nhanh chóng ăn mòn các kim loại trong lò, người ta buộc phải thay mới hoàn toàn nếu muốn lò hoạt động trở lại sau này. Hơn nữa, những thành phần phức tạp của nước biển cũng rất khó để được tẩy sạch hoàn toàn. Để cẩn thận hơn, nước biển bơm vào lò không phải là nước biển nguyên chất mà chúng được trộn thêm Boron nhằm hấp thụ neutron trong lò.

Phương pháp thử 2 là cố gắng làm giảm áp lực ra khỏi lò, qua đó giảm nguy cơ làm lò phát nổ dưới áp suất cao. Tuy vậy, đây cũng là một phương thức không mong muốn vì lượng hơi nước bị giảm có thể chứa các tác nhân phóng xạ. Việc rút không khí ra khỏi lò để làm giảm áp ực cũng đồng thời làm xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên về việc các chất phóng xạ đã bị thoát ra ngoài. Hydro đồng thời được thoát ra sẽ phản ứng với oxy ngoài không khí và bùm, vụ nổ xảy ra đã thổi bay nóc tòa nhà chứa lò hạt nhân.

Thật may mắn khi vụ nổ giữa hydro và oxy đã không ảnh hưởng đến phần bảo vệ bên trong lò nên phần lớn các nhiên liệu hạt phân vẫn được giữ an toàn. Tuy nhiên, người ta vẫn phải lo ngại về những vụ nổ khác có thể sẽ làm hỏng phần bảo vệ.

Vụ nổ cũng đồng thời hé lộ một sự thật đáng sợ: mực nước trong lò đã bị hạ xuống rất thấp, nếu không thì hydro không thể được tạo ra. Các kỹ sư cho rằng một phần thanh nhiên liêu đã bắt đầu tan chảy.

Trong trường hợp xấu nhất, toàn bộ khối nhiên liệu bị tan chảy và nó có thể tiếp xúc với sàn lò phản ứng, đục thủng lớp bảo vệ này nếu đủ nóng và tiếp tục chảy xuống các tầng bảo vệ tiếp theo. Nếu gặp nước, phần nhiên liêu tan chảy sẽ tương tác, tạo ra một vụ nổ lớn đi kèm với hơi nước nhiễm phóng xạ. Vụ nổ và cháy này rất có khả năng sẽ tương tác với những lò phản ứng hạt nhân gần đó trong trường hợp không ngăn chặn kịp.

Một trường hợp đáng nguy hiểm khác thực ra lại không xảy ra bên trong lò phản ứng của Nhật Bản mà nó nằm ở khu vực khác, khu vực chứa các thanh nhiên liệu dự trữ. Người ta cho rằng chính những vụ nổ cũng đồng thời làm thất thoát một lượng lớn nước dùng để giữ cho các thanh nhiên liệu mát trong các bể chứa dự trữ. Hệ quả là nhiệt độ của các thanh nhiên liệu này cũng nhanh chóng tăng lên và cũng có thể gây ra các vụ nổ khác vì khí hydro được sinh ra tiếp xúc trực tiếp với oxy. Xin hãy nhớ là khu vực dự trữ các thanh nhiên liệu này không được khép kín hoàn toàn như các lò phản ứng hạt nhân mà chúng dễ dàng tiếp xúc với không khí. Có lẽ đây chính là thủ phạm chính của những rò rỉ phóng xạ trong thời gian gần đây mà không phải là các lò phản ứng hạt nhân. Các chuyên gia và quân đội Nhật Bản đã có gắng làm mát toàn bộ nhà máy bằng các túi nước thả xuống từ trực thăng hay các phương tiện cứu hóa truyền thống nhưng hy vọng thật quá mong manh.

Tình hình hiện tại:
Trong thời điểm hiện tại thì các nguyên tố phóng xạ có thời gian tồn tại lâu đều được giữ bên trong 5 lớp bảo vệ an toàn của nhà máy hạt nhân Fukushima và người ta chủ yếu phát hiện ra các đồng vị phóng xạ có thời gian tồn tại ngắn vốn là sản phẩm của đợt phân rã thứ 2.

Dù cho một số cơn gió đã mang những đồng vị phóng xạ của Fukushima bay đi xa nhưng như đã nói ở trên, chúng dễ bị bị phân hủy trong một thời gian ngắn. Hơn nữa, hầu hết các nguy hiểm chỉ diễn ra ở khu vực nhà máy và những vùng lân cận nó. Trong một vài thời điểm thì lượng phóng xạ ở đây đạt mức nguy hiểm nhưng chúng lại nhanh chúng sụt giảm. Hiện tại chính phủ Nhật Bản đã giới hạn và sơ tán các khu vực này nên cuộc sống của nhân dân đã bớt nguy hiểm đi.

Tại thời điểm này thì mọi nỗ lực của các kỹ sư nhà máy Fukushima là nhằm giữ cho các lò phản ứng hạt nhân nguội đi nhưng nồng độ phóng xạ tăng quá cao đã làm họ không thể tiếp xúc quá lâu. Dù chỉ làm việc 15 phút rồi đổi ca nhưng chắc chắn sức khỏe của các kỹ sư sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều trong thời gian sau này.

Dù vậy, vẫn có 1 tin tốt làm an lòng chúng ta, đó chính là nếu cứ mỗi ngày trôi qua mà không xảy ra thảm họa, các đồng vị phóng xạ sẽ dần bị phân hủy và hạ thấp mức độ nguy hiểm của toàn bộ thảm họa này. Dù vậy thì việc khó tiếp cận với các lò phản ứng cũng gây ra khá nhiều rắc rối. Hy vọng duy nhất hiện nay nằm ở việc kịp thời đưa nước biển vào các lò phản ứng và khu nhiên liệu dự trữ để làm nguội chúng. Thật đáng buồn khi ngày hôm qua thì cơ quan nguyên tử Nhật đã nâng mức độ trầm trọng của sự việc này lên mức 5, mức nguy hiểm rộng rãi. Chừng nào mà mức nguy hiểm này vẫn còn nằm ở con số 5 thì chúng ta vẫn còn hy vọng.

Sự kiện nguyên tử ở nhà máy Fukushima là một sự kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử thế giới, hết tai nạn này đến tai nạn khác ập đến mà không ai có thể dữ báo trước được. Toàn bộ các phương án dự phòng bị liên tiếp bị phá vỡ bởi thiên tai cũng là một điều cần cân nhắc kỹ trong những nhà máy xây dựng sau này. Điều trớ trêu ở đây lại là Fukushima đã xây dựng được 40 năm và một trong các lò phản ứng của nó sẽ bắt đầu được nghỉ hưu ngay từ năm nay. Dù gì đi nữa, Fukushima vẫn chỉ là 1 sự kiện mang tính cục bộ và hoàn toàn không có khả năng gây ảnh hưởng đến Việt Nam như những thông tin mưa a xít... như một số người đồn thổi.

Tham khảo Ars Technica

Wednesday, March 16, 2011

Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị phá sản (*)

clip_image001[5]
Số liệu trong bài dựa trên giá trị đồng đô la Mỹ, tổng hợp từ BBC. Nợ nước ngoài của chính phủ Việt Nam ở thời điểm đầu 03/ 2011 là 29 tỉ, tức là hơn 42% so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm. Quốc gia này đang rơi vào tình trạng thâm thủng kép cả về thương mại và ngân sách chính phủ. Tuy nhiên, còn có dấu hiệu cho thấy chính phủ Việt Nam có thể đi tới tình trạng vỡ nợ, nếu diễn dịch theo các số liệu dưới đây.
Dự trữ của chính phủ, tức khoản tiết kiệm, hiện có không tới 50% so với công nợ. Nếu phải trả nợ 29 tỉ đô la ngay vào ngày mai, chính phủ Việt Nam sẽ không thể có đủ tiền để trả một lần. Nếu có chuyện các chủ nợ kêu đòi ngay một lúc thì nguồn tài chính của chính phủ sẽ không đủ để thanh khoản. Điều này có thể không xảy ra nhưng vẫn tiềm ẩn khả năng đó, nói tỉ như nếu có một sự cố khủng hoảng chính trị kiểu Ai Cập 2011 hay một thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng như trận động đất trong tháng này ở Nhật, hay xuất hiện một mối hoang mang bất thần trong số các nhà đầu tư và các chủ nợ nước ngoài.
Tình hình này có vẻ không khả quan hơn trong thời gian ngắn. Tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn tiếp diễn và chính phủ cũng dự tính 5% thâm hụt nữa cho năm tài khóa này. Thâm hụt mậu dịch cũng cho thấy không có dấu hiệu cải thiện nhanh, trong tháng Hai là gần 1 tỉ. Chính phủ lập kê hoạch hạn chế tình trạng thâm hụt mậu dịch của năm 2011 là khoảng chừng 18% kim ngạch xuất khẩu, tức khoảng 14,2 tỉ. Nhưng số này vẫn là tăng nhẹ so với năm 2010.
Do vậy, trong tình thế thâm hụt kép vẫn tiếp diễn, thì việc tiếp tục vay nợ là điều cần thiết, sau khi đã cân đối với nguồn thu từ đầu tư trực tiếp ngoại tệ và kiều hối của người Việt hải ngoại. Tuy nhiên, nguồn kiều hối này sẽ đi thẳng vào túi người dân hơn là vào hầu bao của chính phủ. Người dân Việt Nam có khoảng vài tỉ đô la giữ làm tài sản bằng các hình thức tiết kiệm khác nhau, chủ yếu là đô la Mỹ và vàng. Lý do chính là do họ thiếu tin tưởng vào giá trị của đồng tiền Việt Nam, và vào khả năng chống lạm phát của chính phủ.
Năm 2011, chính phủ cần 4 tỉ để trả lãi suất cho phần nợ nước ngoài. Khoản này chiếm chừng 12% ngân sách của chính phủ. Càng ngày càng có nhiều chủ nợ của chính phủ Việt Nam sẽ phải xem chuyện gom nợ dài hạn và khả năng thu thuế của chính phủ là yếu tố quan trọng để cân nhắc chuyện cho vay trong tương lai. Trong bối cảnh đó thì các con nợ đặc quyền [nhà nước] có xu hướng có lợi thế hơn các bộ phận vay mượn phi chính phủ, và như thế điều phân vân là liệu xảy ra nguy cơ tráo trở (moral hazard) trong hệ thống tài chính quốc tế hay không?
Nếu dự trữ ngoại tệ của chính phủ Việt Nam rớt xuống dưới mức 4 tỉ, là số tiền cần phải trả lãi suất hàng năm, thì điều gì sẽ xảy ra? Nguồn dự trữ ngoại tệ của chính phủ đã và đang có xu hướng đi xuống từ cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Việt Nam vào năm 2008, xảy ra trước cả khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Phản ứng của khu vực sẽ như thế nào nếu Việt Nam trở thành một Iceland hoặc một Hy Lạp của Đông Nam Á?
Hiện đang có một động lực để giảm thiếu hụt ngân sách bằng cách cắt giảm chi tiêu. Việc cắt giảm đã được lên kế hoạch nhưng chỉ giảm chừng được 0,5% so với năm 2010. Còn nhiều việc khác nữa cần phải làm và chính phủ và các nhà lãnh đạo đảng cần phải tự làm gương cũng như các lãnh đạo các cơ quan của họ phải đi đầu trong việc này. Vài năm trước, người dân Việt Nam rất lấy làm ấn tượng, khi có một nhà lãnh đạo chính phủ ngoại quốc rời khỏi Hà Nội bằng một hãng hàng không giá rẻ. Ngược lại, trong các chuyến thăm cấp quốc gia, các nhà lãnh đạo Việt Nam lại đem theo cả tùy tùng của mình trên một chuyên cơ đặc biệt của hãng hàng không quốc gia. Đi lại theo kiểu ít phô trương có lẽ là hữu ích hơn. Các thí dụ khác về tình trạng lãng phí thì đầy rẫy.
Điều mà chính phủ cần là kiện toàn các phương thức kiểm soát vĩ mô và ngăn ngừa việc chi tiêu quá mức. Tựu trung là, cần phải ấn định một giới hạn mức độ thâm hụt mà không một chính phủ nào có quyền thay đổi hoặc chi tiêu nếu không được 80% đại biểu Quốc hội đồng ý, và Chủ tịch nước cũng phải được cho phép rà soát ngân sách của chính phủ một cách kỹ càng hơn và được quyền yêu cầu chính phủ phải có những điều chỉnh bắt buộc theo đúng luật. Chủ tịch nước cũng cần phải được quyền phủ quyết tình trạng thiếu hụt ngân sách ngay cả khi 80% đại biếu Quốc hội đồng ý – nếu không đem lại lợi ích gì cho quốc gia. Tiết kiệm có tính bắt buộc ngân sách hàng năm của chính phủ cần phải trở thành một việc làm thường quy.
Có lẽ cũng nên thể chế hóa việc kiểm soát các bộ phận có tính cụ thể. Chẳng hạn như, trong khi các đơn vị như quốc phòng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục không phải là đối tượng để siết chặt, thì ngân sách cho các bộ ngành khác và các doanh nghiệp nhà nước cần phải được giám sát chặt chẽ và cần phải đặt trong lộ trình giảm dần ngân sách chi trong vòng 5 năm tới, cho tới khi tình hình tài chính được cải thiện rõ rệt. Nếu là các doanh nghiệp do nhà nước làm chủ, trừ khi có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh quốc gia, thì có lẽ không nên để sống bằng tiền nhà nước bơm vào, mà cần phải giải thể.
Một điều nghịch lý, lúc này cũng chính là thời điểm cho các quốc gia tài trợ cần phải cân nhắc việc cắt giảm viện trợ, dù là dần dần, để gây áp lực buộc chính phủ này phải đương đầu với những lựa chọn quyết liệt trong vấn đề dự chi ngân sách để đảm bảo cho Việt Nam sống một cách tự lực. Với tình trạng tài chính hiện nay, thì câu chuyện phát triển của Việt Nam là không bền vững và có thể bị sụp đổ.
(*) Tựa đề do người dịch đặt lại. Nguyên văn: Vietnam’s poor government
Tác giả David Koh là Chuyên viên cao cấp của Viện nghiên cứu Đông nam Á

Monday, March 7, 2011

Cái gì gây ra lạm phát ở Việt Nam?

Tình trạng kinh tế ở Việt Nam được diễn tả trong một bài ca dao đang phổ biến như sau:

Đau đầu vì điện
Điên đầu vì đô (đô la)
Ngây ngô vì vàng
Ngỡ ngàng vì đất 

Điện không biết lúc nào bị cúp; ngay một khách sạn quốc tế ở giữa thủ đô cái máy pha cà phê cũng ngưng chạy vì cúp điện. Giá đô la Mỹ trên thị trường chợ đen lúc nào cũng chạy vọt lên nhanh hơn giá do nhà nước chính thức quy định. Nhà nước vừa mới phá giá đồng tiền Việt Nam xuống thêm hơn 8%, phá giá lần thứ ba trong vòng 12 tháng. Đây là lần phá giá tiền thứ sáu kể từ hai năm rưỡi nay; nhưng vẫn như các lần trước, giá chính thức vừa được công bố thì giá mua đô la trong các cửa hàng vàng Hà Nội đã vươn lên qua mặt nữa rồi.

Vì dân chúng không tin tưởng vào đồng tiền, những người có tiền trong tay tìm cách tống khứ cái khuôn mặt in trên đó đi càng nhanh càng tốt, bằng cách đổi lấy đô la Mỹ hay mua vàng. Vàng thì nặng, khó giữ và khó chuyển ra ngoài, cho nên giới quan chức lớn và doanh nhân có tiền thật đều tích trữ đô la. Tại sao người ta chuộng những tờ giấy 100 đô la mới, sẵn sàng trả giá cao hơn? Vì khi đem hối lộ, được hoan nghênh hơn! Quí quan cũng biết rằng đem đô la đi lại nó nhẹ nhàng hơn vàng nhiều.
Trong khi giới có quyền và có tiền điên đầu vì đô la và vàng, thì những nông dân lại “ngỡ ngàng vì đất”. Đồng bào tỉnh Hà Nam đã kéo nhau lên tận Hà Nội biểu tình đòi đền bù đất xứng đáng, nhưng chưa ai tổ chức tập hợp được tất cả các đoàn nông dân mất đất cùng đi khiếu kiện một lúc!

Sau phần “Ngỡ ngàng vì đất” bài ca dao đọc tiếp:

Ngất vì tỷ giá
Ngã vì lãi suất
Uất vì giá xăng

Cả ba hiện tượng: Tỷ giá đô la so với đồng tiền Việt Nam, lãi suất, và giá xăng quy tụ vào một điểm là “lạm phát phi mã”. Trong tuần rồi, giá xăng đã tăng vọt lên hơn 17%, gần 20.000 đồng một lít; và giá diesel tăng 24%, lên hơn 18.000 đồng. Giá xăng lên là một phần trong cảnh vật giá leo thang, tức là lạm phát. Ngày 25 tháng Hai vừa rồi, nhật báo Wall Street Á Châu loan tin đặc biệt về lạm phát ở Việt Nam, cho biết tỷ lệ giá sinh hoạt (CPI) tăng là 12,31%; nhắc nhở rằng đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất ở Á châu. Hai món chính tăng giá là thực phẩm và nhà cửa, trong đó có giá vật liệu xây cất. Đó là hai nhu cầu thiết yếu của dân, đặc biệt là dân nghèo thì hầu hết đồng tiền kiếm được chỉ đổ vào chuyện ăn với ở!

Nhưng không ai tin rằng mức lạm phát sẽ dừng chân ở vị trí 12%. “Ngất vì tỷ giá” là một lý do. Đồng đô la Mỹ lên giá sẽ thúc lạm phát lên cao nữa. Vì mọi thứ hàng nhập cảng, khi mua phải trả bằng đô la, sẽ đắt hơn khi tính ra tiền Việt Nam. Ngoài ra, còn “Uất vì giá xăng”. Giá xăng dầu vừa mới lên sẽ khiến cho tất cả những thứ hàng hóa và dịch vụ cần dùng đến xăng dầu phải tăng giá theo (có món nào không cần chuyên chở bằng xe tàu chạy xăng không?). Riêng hai thứ đô la và xăng thôi cũng đủ khiến cho giá cả nhiều món hàng bắt buộc tăng giá trong thời gian tới. Cho nên nhà kinh tế Matt Hildebrandt thuộc công ty tài chính JP Morgan đoán rằng trong mấy tháng tới tỷ lệ lạm phát ở nước ta sẽ lên 14%, và giữ mức đó cho cả năm 2011. Nhiều người lo ngại lạm phát sẽ lên tới 15%. Trong khi đó, nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn không thay đổi chỉ tiêu của họ là giữ lạm phát ở mức 7% cho năm nay. Đúng là họ sống trong một thế giới ảo, khác đám chúng sinh đang đi lại ở ngoài đường.

Trước tình hình lạm phát đe dọa đó, dân đang “Ngã vì lãi suất” vì Ngân hàng Nhà nước phải cho tăng lãi suất nhiều lần để giảm bớt số lượng tiền lưu hành. Như nhận xét của tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia, trong một bài đăng trên mạng lưới của nhà nước, Việt Nam đang lâm vào một thế bí, là phải lo chống lạm phát trong lúc lãi suất đang rất cao.
Bình thường, khi muốn ngăn chặn lạm phát thì người ta phải tăng lãi suất. Lãi suất tăng sẽ khiến dân bớt tiêu thụ đi và các xí nghiệp cũng bớt đầu tư; do đó số cầu giảm và giá cả các món hàng sẽ hạ bớt. Nhưng khi lãi suất đã cao lắm rồi, thì khó ai dám tăng lãi suất nữa. Tức là Ngân hàng Nhà nước mất một thứ dụng cụ để giảm bớt lạm phát. Cho nên ông Trần Du Lịch nói thẳng về viễn tượng kinh tế Việt Nam: “Qua 2 tháng đầu năm 2011, có thể thấy tình hình kinh tế vĩ mô gặp khó khăn hơn năm 2010 và nghiêm trọng hơn chúng ta dự đoán”. Cho đăng những nhận xét của ông trên mạng lưới nhà nước, cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam muốn báo trước cho toàn thể mọi người biết cả nước sắp vất vả! Mặt khác, họ cũng muốn chối tội về những biện pháp mới thi hành: tăng giá xăng và phá giá đồng bạc. Bởi vì, đó chính là những điều mà tiến sĩ Trần Du Lịch đưa ra đề nghị phải làm ngay “cả gói!”. Nếu dân phải chịu khổ, hãy trút tội lên các chuyên gia kinh tế đưa ý kiến, đừng buộc tội Đảng và Nhà nước!

Nhưng cuối cùng, chính Nhà nước và Đảng Cộng sản đã gây ra cái cảnh lạm phát phi mã hiện nay, không thể nào đổ tội cho ai được!

Cái tội chính đã được ghi trong cương lĩnh, chính sách của những kỳ Đại hội Đảng từ mấy lần rồi. Đó là “Lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo”.

Tại sao có lạm phát? Vì tiền đổ ra nhiều quá mà sức sản xuất hàng hóa không tăng theo kịp. Tại sao lại đổ ra nhiều tiền như vậy? Vì các ngân hàng của nhà nước đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước tha hồ tiêu xài. Trong năm 2010, số tiền do các ngân hàng cho vay đã tăng thêm 28%, lên tới con số vay nợ lớn bằng 140% Tổng sản lượng nội địa (GDP). Nên biết, năm 1997, ngay trước khi Thái Lan bị khủng hoảng tài chánh, tổng số nợ của họ cũng chỉ lớn bằng 130% GDP! Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải dùng 30% của Tổng sản lượng nội địa chỉ để trả tiền lãi và trả góp vốn các món nợ vay của người nước ngoài. Tại sao cần nhiều tiền đến như vậy? Vì có khi nhà nước đứng ra vay đô la từ nước ngoài, tức là đem tài sản cả nước ra làm vật thế chấp, rồi đưa tiền đó cho doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Đó là câu chuyện Vinashin đi vay 750 triệu đô la, ai cũng biết.

Những doanh nghiệp nhà nuớc làm ăn thế bết bát thế nào ai cũng biết. Nhưng chính sách của Đảng Cộng sản vẫn là đem tiền của toàn dân cho các cán bộ kinh tế của đảng tha hồ tiêu pha lãng phí. Tiến sĩ Nguyễn Quang A năm ngoái đã viết một bài phân tích tường tận về cái lỗ thủng khổng lồ, cái thùng không đáy là các doanh nghiệp nhà nuớc.

Hiện nay cán cân mậu dịch của Việt Nam bị thâm thủng trên một tỷ đô la mỗi tháng. Trong các nước Đông Nam Á, nước nào mua bán với Trung Quốc cũng thặng dư, tức là bán nhiều hơn mua; trừ Việt Nam là chịu thâm thủng, tiền ra nhiều hơn tiền vào! Ai gây ra cái nạn thâm thủng đó? Ông Nguyễn Quang A tính có 3 lãnh vực, các công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam thì bao giờ cũng đem tiền vào Việt Nam nhiều hơn là đem ra. Các xí nghiệp tư nhân trong nước thường cũng như vậy, ít nhất là không bị thâm thủng. Chính các doanh nghiệp nhà nước là nguồn gốc gây ra cảnh thâm thủng!

Các doanh nghiệp nhà nuớc được chính quyền ưu đãi, hưởng chế độ ưu đãi khi đi vay tiền của các ngân hàng, cũng do cán bộ điều khiển. Nhưng nó lại đóng góp rất ít vào kinh tế quốc dân. Ông Nguyễn Quang A cho biết, “số lao động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng hơn 3 lần trong những năm 2000-2006, từ hơn 1 triệu lên hơn 3 triệu người. Tương tự, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI (ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam) đã tăng hơn 3 lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng lên hơn 1,4 triệu người năm 2006. Số lao động làm việc trong các DNNN chỉ còn chiếm 28% tổng số lao động trong doanh nghiệp; giảm hơn một nửa (59,1%) so với năm 2000”.

Còn phần đóng góp của các doanh nghiệp nhà nuớc vào ngân sách quốc gia thì sao? Tiến sĩ Nguyễn Quang A ghi nhận các doanh nghiệp nhà nước chỉ góp trên 10% vào tổng số thu của nhà nước, còn 88,65% là do các doanh nghiệp khác, tư nhân trong nước và nước ngoài đóng góp!

Với những thành tích của các doanh nghiệp nhà nuớc như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc! Họ đem tiền của dân cho đám cán bộ sử dụng dù không có hiệu quả. Vì đó doanh nghiệp nhà nuớc là nơi họ nuôi các cán bộ đảng! 

Chi tiền nhiều quá, sinh lạm phát, thì toàn dân phải chịu!

Theo Ngô Nhân Dụng

Friday, March 4, 2011

Nghiên cứu động cơ để hiểu bản chất hành động, bản chất con người

Mạc Văn Trang
PGS TS Tâm lý học

1. Vấn đề cấp thiết
imageLâu nay nghiên cứu động cơ trong Tâm lý học ở nước ta chủ yếu trên bình diện lý thuyết; những nghiên cứu thực tiễn còn rất ít và thường bó hẹp vào một vài đề tài về động cơ học tập, chọn nghề của học sinh, sinh viên. Trong khi cuộc sống hiện nay đặt ra rất nhiều vấn đề đòì hỏi cần nghiên cứu, lý giải nhiều loại hành động bất thường tăng nhanh trong đời sống xã hội: bỏ học, bỏ việc, bỏ nhà, ly hôn, bạo hành, tự tử, cưỡng dâm, giết người, tham nhũng (1)… và rất nhiều tấm gương thành đạt trên mọi lĩnh vực hoạt động. Trên bình diện tâm lý xã hội hay tâm lý cá nhân, nguyên nhân dẫn đến những hành động bất thường, những thành công đó, hẳn là một quá trình diễn biến phức tạp, có nguyên nhân tâm lý sâu xa từ động cơ. Hơn 2500 năm trước Khổng Tử, nhà tư tưởng lớn phương Đông từng viết: “Này, Dịch là cái thánh nhân dùng để đến chỗ cùng sâu mà nghiên cứu động cơ vậy. Chỉ có sâu mới thông được cái chí của thiên hạ; duy có động cơ mới làm nên việc lớn trong thiên hạ”. Ông cho rằng: “Tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân một sớm một chiều…” Trong đó động cơ là cái quyết định: “Động cơ là chỗ vi diệu nhất của mọi hành động, là sự hiện ra trước của mọi điềm lành dữ vậy(2) (Có lẽ người Trung Hoa đã luôn quán triệt điều đó và không ngừng nuôi dưỡng từ bao đời cái động cơ bá chủ thiên hạ…). Động cơ là cái “cùng sâu” và “vi diệu” vô cùng phức tạp, có thể nguỵ trang, biến đổi trường diễn, cách tiếp cận và kỹ thuật trắc nghiệm khó khăn, tác động cải biến càng khó khăn hơn, nên những đề tài ngắn hạn ít dám nghiên cứu. Nhưng không lẽ một vấn đề cơ bản, quan trọng và cấp thiết lại bị né tránh? Chắc rằng một khi quyết đi sâu nghiên cứu thì sẽ tìm ra những phương pháp, kỹ thuật phù hợp, có thể tin cậy.
2. Về một số hướng nghiên cứu động cơ
Một vài đề tài nghiên cứu động cơ gần đây thường điểm lại các lý thuyết, rồi sau đó đã chọn lý thuyết không phù hợp lắm với tính chất của đối tượng nghiên cứu, nên khi tiến hành điều tra và phân tích kết quả thu được thường lúng túng, ít thuyết phục. Có khá nhiều lý thuyết về động cơ. Mỗi lý thuyết đều xuất phát từ những kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu riêng trong từng lĩnh vực chuyên sâu của mỗi tác giả; đồng thời mỗi tác giả thường cố gắng chứng tỏ thuyết của mình khác với những thuyết đã có, nên mỗi lý thuyết đều ít nhiều có tính cực đoan, phiến diện... Do vậy khi nghiên cứu thực tiễn về loại động cơ nào đó, nên chọn một lý thuyết chủ đạo, đồng thời không nên tuyệt đối hoá, mà cần vận dụng các lý thuyết khác để lý giải nhiều khía cạnh phức tạp của động cơ trong đời sống thực.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về động cơ học tập, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật, nghề nghiệp… nên lựa chọn cách phân tích động cơ theo lý thuyết hoạt động của A. N. Leonchiep về động cơ đối tượng và động cơ kích thích (ngoài đối tượng)(3). Theo lý thuyết này, đặc trưng hoạt động của con người là chủ thể tích cực hướng vào đối tượng, chiếm lĩnh, cải biến đối tượng… Cái thúc đẩy con người say sưa hoạt động hướng vào đối tượng chính là động cơ đối tượng hay động cơ tạo ý nhân cách. Khi chủ thể xa rời đối tượng, không còn say mê hướng về đối tượng để hoạt động, hoặc “tích cực” vì những kích thích bên ngoài đối tượng (thưởng, phạt, thành tích hão…) thì sớm muộn nhân cách (chủ thể) sẽ xa rời đối tượng, tha hoá khỏi đối tượng, sự “tích cực” chỉ là hình thức, giả dối (với đối tượng)… Học sinh, sinh viên,, nghiên cứu sinh học vì điểm, vì bằng cấp, vì thi đua hão huyền… chứ không vì say sưa chiếm lĩnh đối tượng để làm phong phú, phát triển chính bản thân mình và sáng tạo mới cho xã hội thì họ sẵn sàng xin điểm, mua bằng, dùng các thủ đoạn để đạt được cái họ cần. Như vậy thì còn đâu là chất lượng giáo dục thật sự! Người nghệ sĩ, nhà khoa học cũng vậy, khi ngày càng xa rời đối tượng, thì họ chỉ còn là cái vỏ không hồn! Tình yêu nam - nữ càng như vậy. Họ yêu những gì ở ngoài người mình yêu thì sao còn là tình yêu đích thực? Ta vẫn thấy có bao nhiêu Tiến sĩ dởm, bao nhiêu chàng trai, cô gái bị lừa tình, bao nhiêu nghệ sĩ, nhà khoa học hữu danh, vô thực … Đó là vì người ta chỉ chú ý đến những gì kích thích họ, ở ngoài đối tượng; khi những kích thích đó mất đi hoặc bão hoà thì động cơ cũng hết hiệu lực. Trong khi đó, người sinh viên, nghệ sĩ, nhà khoa học… say mê đối tượng thì… có hai cuộc đời vẫn chưa đủ! Ngô Bảo Châu sau hơn hai thập niên say mê, hết mình với Toán học, đạt đến một đỉnh cao và được ghi nhận bằng giải thưởng FIELDS danh giá, đã nói: “Từ trải nghiệm làm việc ở Pháp cũng như ở Mỹ tôi hiểu ra rằng môi trường học tập lành mạnh là điều kiện tiên quyết cho sự trưởng thành của những nhà khoa học trẻ. Môi trường khoa học lành mạnh chính là nơi học thuật và đạo đức trong học thuật được luôn xếp ở vị trí đầu tiên cùng với sự bình đẳng trong các nhà khoa học không phân biệt già trẻ cũng như sự tự do tuyệt đối trong nghiên cứu khoa học”.(4)
Say mê khám phá đối tượng, chinh phục đối tượng và bị đối tượng chinh phục; chủ thể “bị đối tượng hoá” và đối tượng “bị chủ thể hoá”, biến đổi dưới tác động của chủ thể, cũng là quá trình hình thành, phát triển động cơ. Động cơ như vậy mang hàm ý nhân cách; hệ thống các hoạt động sẽ tạo nên hệ thống thứ bậc động cơ, trong đó có động cơ ưu thế, trở thành cốt lõi của nhân cách một cách bền vững. Những động cơ khác sẽ bị điều tiết bởi động cơ ưu thế. Từ đó có thể xuất hiện những nhân cách lớn, những nhà khoa học, nghệ sĩ lớn… Học sinh, sinh viên say mê học tập các môn học và tìm thấy cốt lõi nhân cách của họ hình thành từ đó (chứ không phải bởi những thứ thi đua tào lao, thành tích hão huyền); nhân cách nghề nghiệp của mỗi người hành nghề được đánh giá từ động cơ nghề nghiệp gắn liền với đối tượng lao động, với sản phẩm họ làm ra… Hiểu động cơ như vậy là hiểu được cốt lõi nhân cách nghề nghiệp cũng như sự tha hoá nhân cách nghề nghiệp hiện nay đang diễn ra khá đa dạng, ở nhiều cấp độ. Những điều phân tích trên phù hợp với nhận xét thẳng thắn của Ngô Bảo Châu: …“Trong hầu hết các gia đình Việt Nam, việc học hành vẫn được coi là quan trọng nhất nhưng tình yêu trí thức, yêu khoa học trong suy nghĩ chủ quan của tôi, vẫn là sự hiếm hoi”.(5) Nói cách khác, học không vì “tình yêu tri thức, yêu khoa học” mà vì những cái ở ngoài nó thì làm sao có được “động cơ đối tượng” đích thực, bền vững!
Lý thuyết động cơ của L.I. Bozhovic và một số người lại chú ý phân loại động cơ: “vì cá nhân hay vì xã hội (ích kỷ hay vị tha) chiếm ưu thế. Lý thuyết này cũng đã có một số nghiên cứu thực nghiệm có kết quả ở học sinh(6). Đối với những học sinh, thanh niên tình nguyên vì cộng đồng, đặc biệt với những người lãnh đạo tập thể, cộng đồng, xã hội nếu không có động cơ xã hội ưu thế sẽ không thể thành công. Làm lãnh đạo mà coi trọng lợi ích của bản thân, gia đình, êkip… hơn lợi ích của cộng đồng, xã hội thì sớm muộn cũng tha hoá, không thể giữ vai trò lãnh đạo được. Học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, cơ bản nhất là học tập động cơ phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội, phục vụ nhân loại của ông. Ông yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đồng thời phải “hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”. Động cơ “vì dân phục vụ” luôn quán triệt trong toàn bộ tư tưởng và cuộc sống của ông. “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” là thước đo động cơ của người lãnh đạo từ cơ sở đến trung ương. Hồ Chí Minh cũng coi động cơ “vì dân” là cốt lõi của nhân cách người cán bộ, người lãnh đạo. Xa rời động cơ đó cũng có nghĩa là sẽ hư hỏng, thoái hoá, biến chất, không còn là người cán bộ, người lãnh đạo của nhân dân(7)
Nghiên cứu động cơ lãnh đạo còn cần chú ý cách phân loại động cơ của B. Ph. Lômov về động cơ gần và động cơ xa. Người lãnh đạo, trên cơ sở “vì dân”, còn đòi hỏi có tầm nhìn xa, trông rộng, có khát vọng, nung nấu ý chí đưa nhân dân, đất nước đến giàu, mạnh, hạnh phúc, “sánh vai cường quốc năm châu”… Những kẻ thiển cận, “ăn xổi, ở thì”, cốt vơ vét cho đầy túi tham, hết nhiệm kỳ rồi chuồn êm… mà lãnh đạo thì nguy hại cho dân, cho nước! Động cơ xa mà đúng đắn, chủ đạo thì những động cơ gần, trong những việc làm cụ thể tưởng như tản mạn, nhỏ bé nhưng đều nhất quán, quy về một hướng, tránh được tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, các chính sách “đá lộn nhau”, “nói một đằng, làm một nẻo”… Tất nhiên động cơ xa có giá trị như thế nào còn phụ thuộc vào cái tầm của nhân cách, và đó chính là một đòi hỏi cơ bản đối với nhân cách người lãnh đạo.
Trong khi đó, đối với người sử dụng lao động, quản trị nhân sự lại cần quan tâm đến những nhu cầu, động cơ, thái độ của người lao động theo lý thuyết thứ bậc nhu cầu của A. Masslow và một số người khác(8). Tức là phải quan tâm đến hệ thống nhu cầu sống của người lao động: từ ăn, ở, an toàn, vệ sinh, đối xử đến tiền lương thưởng và những nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần. Trên cơ sở đó mới tạo ra động cơ gắn bó với công việc, lao động tích cực sáng tạo. Người lao động phải nhận những đồng lương chết đói, đời sống vật chất khốn khó, đời sống tinh thần nghèo nàn, quản lý, lãnh đạo quan liêu, hách dịch, đối xử bất công… thì mong gì có lao động năng suất cao, chất lượng tốt… Và những hiện tượng lãn công, đình công, xung đột, bỏ việc… là chuyện tất yếu…
S. Freud và một số người lại đi sâu nghiên cứu động cơ nguyên nhân động cơ mục tiêu (cứu cánh)(9). Cách phân loại này phù hợp hơn với việc nghiên cứu những hành vi lệch chuẩn, bất thường. Chẳng hạn nhiều người có hành vi lệch chuẩn bị thúc đẩy bởi những động cơ từ nguyên nhân sâu xa do rối nhiễu tâm lý, nhân cách; do thúc đẩy của các loại bản năng; do những trải nghiệm tâm lý: ẩn ức, mặc cảm, xung động, thèm muốn … bị ức chế, chèn ép, dồn nén, xô đẩy, chìm sâu vào “cái lò” của vô thức, chờ có dịp là bùng phát dữ dội, ở cả cá nhân, nhóm hay đám đông, khó kiểm soát được. Có những nguyên nhân sâu xa từ quá khứ, từ thơ bé… đến lúc trưởng thành mới “phát ra” nên nhiều khi phải trò chuyện tự do, phỏng vấn sâu, tìm hiểu quá trình lịch sử… mới phát hiện ra động cơ nguyên nhân. Một em bé thấy con hàng xóm được ăn ngon, mặc đẹp, thừa thãi đồ chơi, đi ô tô đến trường, còn nó sống trong nghèo đói, thèm khát những thứ tối thiểu; một học sinh thấy cô giáo yêu chiều con nhà giàu và coi khinh nó nghèo; một thiếu niên nằm chung giường bệnh với ba bốn người cùng cảnh ngộ, bị hắt hủi, nhìn sang phòng “dịch vụ chất lượng cao” thấy một “cậu ấm” nằm mình một phòng có điều hoà nhiệt độ và các bác sĩ tíu tít quan tâm… Tất cả đều gây ra những trải nghiệm tủi hờn, ấm ức… về sự bất công, phi lý. Những học sinh, sinh viên được giáo dục về bình đẳng, tự do, công lý… nhưng nhìn vào thực tế xã hội lại thấy có “hai pháp luật”, “hai, ba thứ đạo đức”… gây cho họ những trải nghiệm tâm lý khó chịu, bực tức, bất bình… Những người nông dân sau khi bán đất như “bèo” cho các dự án, rồi thấy người ta biến nó thành “tấc đất, tấc vàng”; họ trở thành những ông bà chủ giàu sang, xe hơi nhà lầu; người nông dân mất đất lại thành cu li đi làm thuê, vợ con thành “ô -sin”, hầu hạ những kẻ vừa trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt ruộng vườn của mình… Tất cả đều trải qua những xung động bất mãn, buồn bực, tức tối… Càng nhìn, càng ngẫm càng thấy cay đắng, xót xa, uất hận… Đó là nguyên nhân sâu xa cho những động cơ bột phát những hành động bùng nổ khó lường, nhất là hành động của những đám đông phấn khích. Một khi đa số người dân trong cộng đồng, xã hội cảm thấy bất mãn vì sự bất công, bất bình đẳng, bị thua thiệt, phi lý… là những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực, tích tụ trở thành tâm trạng nặng nề, một trạng thái tâm lý xã hội căng thẳng, tiềm tàng nguy cơ bất ổn… Động cơ ở đây bao gồm một phức cảm tổng hợp, khó lý giải, thường thúc đẩy hành động bột phát, nhiều khi ý thức không kiểm soát được.
Việc phân biệt động cơ nguyên nhân và động cơ mục tiêu rất có ý nghĩa khi xem xét hai hành động tưởng như giống nhau nhưng thực ra khác nhau căn bản về bản chất tâm lý. Chẳng hạn vụ án Phan Minh Mẫn giết cha ở TP Hồ Chí Minh (19/11/2009) và Nghiêm Viết Thành giết cha ở TP Hải Dương (6/5/2009), cùng bị Toà án tuyên tử hình. Nhưng việc tử hình Mẫn làm nhiều người trăn trở, vì người cha của Mẫn rất tàn ác, gây bao đau thương cho cả gia đình. Người con trai đã chịu đựng, chất chứa, dồn nén, tích tụ bao đau đớn, xấu hổ, tủi nhục, căm giận… đối với người cha độc ác. Hành động giết cha ấy có nguyên nhân sâu xa là trả thù, trừng trị cái ác để giải thoát cho mọi người và bản thân. Nếu người cha độc ác ấy bị xã hội sớm trừng phạt, cho đi tù, thì người con đã có thể đến chăm sóc cha, thương cha hơn, chứ không phải ra tay giết cha! Cái ác đã không bị trừng phạt nên đẻ ra những cái ác khác! Còn vụ giết cha của Thành thì khác, nếu người cha tiếp tục cung cấp tiền cho hắn ăn chơi thì cha vẫn “tốt”… Những kẻ giết người chỉ bởi mục tiêu phương tiện, lại phải tìm nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự tha hoá, sa đoạ ở chúng(10)
Thuyết hành vi(11) cũng cho thấy loại động cơ thực dụng: cứ có tiền là làm, bất kể việc gì, chẳng có việc “tốt” và “xấu”, chỉ có việc nhiều tiền và ít tiền… Từ đó hình thành nên triết lý sống: tiền là trên hết, là sức mạnh toàn năng. Người ta lao vào kiếm tiền bằng mọi giá, bán cả thân xác lẫn linh hồn cho kẻ có tiền. Một lối sống như thế sẽ dẫn xã hội đến chỗ mọi cái đều ngã giá, mua bán: bằng cấp, chức tước, quan hệ, danh vị, sinh mạng… rồi cả Tổ quốc! Tính Người sẽ ngày một tha hoá. Ta đã thấy nhiều vụ đâm thuê, chém mướn ghê rợn, những kẻ thủ ác mất hết tính người: chúng nhận tiền tạm ứng, bảo đến chém chết người kia, chém xong, lĩnh tiền thưởng và đi nhậu nhẹt… Chúng tiến hành tội ác như một trò chơi, không cần biết người bị giết là ai, hoàn cảnh thế nào, tốt xấu ra sao!(12)... Trong các băng đảng xã hội đen luôn có bọn tay chân ngu tín, mất hết tính người như vậy. Chúng chỉ biết phục tùng, trung thành mù quáng đối với người ra lệnh, bất chấp tình người, đạo lý, pháp luật! Chúng luôn viện lý rằng, chúng chỉ làm theo lệnh, người ra lệnh sẽ chịu trách nhiệm. Bọn người này vô cùng nguy hiểm cho xã hội. Họ chỉ có thể được thức tỉnh khi ý thức rõ về hành động tội ác, biết tự phân tích, đấu tranh động cơ, lương tâm hồi tỉnh …
Vấn đề nghiên cứu động cơ chính trị, động cơ trong hoạt động đối ngoại hết sức quan trọng, nhưng cả về lý thuyết cũng như thực tế, không biết ở ta đã và đang được tiến hành ở mức nào. Bản thân tôi chưa được tiếp xúc với công trình nghiên cứu chính thống nào về vấn đề này. Gần đây được đọc một vài tài liệu mới thực sự hiểu ra một số hành động của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam mà từ trước vẫn mơ hồ.
Nhớ lại, sau Hiệp định Genève 1954, hòa bình lập lại ở Việt Nam, bọn thanh thiếu niên chúng tôi suốt ngày múa hát “thắm thiết tình Việt – Trung - Xô”, cứ tưởng Trung Quốc với mình là anh em, đồng chí, hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của Việt Nam … Đến khi đọc lời giới thiệu cuốnTrung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương’’ do Francois Joyaux, một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung Quốc biên soạn, được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc Kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc nước ta”. Cuốn sách này được Nhà xuất bản Thông tin lý luận dịch, xuất bản vào tháng 3 năm 1981. Chỉ đọc lời giới thiệu cuốn sách trên blog anhbasam ngày 31/12/2010 đã thấy rõ: Trung Quốc “đi đêm” với Pháp và Mỹ để ép Việt Nam phải ngừng bắn, lập lại hòa bình ở Đông Dương theo kịch bản của Trung Quốc. Vì “…việc tiến hành thương lượng về Đông Dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung Quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông Dương, tạo khả năng cho Trung Quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung Quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung Quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”. Trung Quốc còn vì nhiều mục tiêu khác: “…Trung Quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt Nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung Quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc Kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt Minh ở hội nghị Giơnevơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt Nam dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “tham vọng” đối với miền nam Việt Nam và đối với các nước khác ở Đông Dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Ý đồ của Bắc Kinh còn ở chỗ là “bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam Kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung Quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu”…;Chiến lược của Bắc Kinh rõ ràng là muốn Đông Dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung Quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc Kinh. Cho nên Bắc Kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt Nam, duy trì các chính phủ vương quốc ở Lào và Campuchia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung Hoa”.(13). Nhớ lại những ngày Trung Quốc hết lời ca ngợi Việt Nam đánh Mỹ và “hết lòng chi viện”…, thì có một nhà báo phương Tây đã nói “Trung Quốc muốn ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Họ quá thâm hiểm, động cơ sâu kín thật! Đúng là “bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”!
Còn Trung Quốc tiến đánh Việt Nam tháng 3 năm 1979, tôi cứ nghĩ chủ yếu do họ cay cú vì bị Việt Nam giúp nhân dân Campuchia nổi dậy, lật đổ tập đoàn Khơ me đỏ Pôn-pốt, tay sai của họ, nên họ “dạy cho Việt Nam một bài học” theo kiểu côn đồ: “Mày đánh con ông, thì ông đánh bố mày”… Hóa ra không phải thiển cận, nông cạn như vậy! Chỉ khi đọc bài “Một gương mặt khác của Lưu Á Châu” do Dương Danh Di dịch nốt phần bài nói của vị tướng đang nổi danh của Trung Quốc phân tích về “những đóng góp to lớn của quân GPND Trung Quốc cho cải cách mở cửa” là tiêu diệt cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 4 tháng 6 năm 1989 và tiến hành “cuộc đánh trả tự vệ đối với Việt Nam năm 1979” mới rõ cái động cơ sâu xa của giới lãnh đạo Trung Quốc. Lưu Á Châu nói: “Một lần nữa là cuộc đánh trả tự vệ đối với Việt Nam năm 1979 và sau đó là cuộc chiến đấu tại "Lưỡng Sơn" (tức vùng Pháp Ca Sơn). Đặc biệt là cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam năm 1979, rất nhiều đồng chí chúng ta không nhận thức được ý nghĩa của cuộc chiến tranh này (…) Chúng ta cần xem xét cuộc chiến này từ góc độ chính trị. Ý nghĩa của chiến tranh luôn luôn ở ngoài chiến tranh. Cuộc chiến tranh này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để cho hai người xem, một là Đảng Cộng sản Trung Quốc, hai là bọn Mỹ. Năm 1978 đồng chí Tiểu Bình được phục hồi, tháng 1 năm 79 thăm Mỹ, tháng 2 đánh nhau. Xem xét từ chính trị thấy, trận đánh này không đánh không được. Vì sao vậy? Sau khi đồng chí Tiểu Bình phục hồi ý tưởng chiến lược cải cách mở cửa Trung Quốc đã hình thành trong tim gan đồng chí, muốn thực hiện ý tưởng chiến lược đó cần phải xây dựng được quyền uy tuyệt đối trong đảng. Phải đánh một trận. Lúc đó "lũ bốn người" vừa bị đập tan, những người có tư tưởng cực tả trong đảng chống Đặng càng chống đường lối và chính sách của ông hơn. Muốn cải cách cần phải có quyền uy. Biện pháp nhanh nhất để xây dựng quyền uy là đánh nhau….
Người Mỹ sau khi hao binh tổn tướng tả tơi nhếch nhác rút khỏi Việt Nam, đồng chí Tiểu Bình đã nói, chúng ta cho Việt Nam bài học. Lúc đó Việt Nam chạy theo ai? Chạy theo Liên Xô, lúc đó đồng chí Tiểu Bình phát động cuộc đánh trả tự
vệ Việt Nam là đã vạch ranh giới giữa Trung Quốc với cái gọi là mặt trận xã hội chủ nghĩa Liên Xô… Mười năm trước đồng chí Tiểu Bình đã nhìn rõ điểm này, dùng cuộc
chiến tranh đó để vạch rõ ranh giới với anh… Vừa rồi tôi nói trận đánh này cũng là đánh vì người Mỹ, có nghĩa là nói để cho người Mỹ hả giận. Có chứng cứ không? Có. Ngày hôm kia đồng chí Tiểu Bình vừa rời Nhà Trắng Mỹ về thì ngày hôm sau đánh. Vì sao muốn để người Mỹ hả giận? Người Mỹ vừa vỡ đầu sứt tai chạy khỏi Việt Nam. Vì sao chúng ta phải làm cho họ hả giận? Thực ra điều đó cũng không phải vì Mỹ mà là vì chúng ta vì cải cách mở cửa. Trung Quốc muốn cải cách mở cửa mà không có viện trợ của phương Tây đứng đầu là Mỹ là không có khả năng. Đánh trận này, viện trợ kinh tế, viện trợ khoa học kỹ thuật, bao gồm cả viện trợ quân sự và tiền vốn sẽ không ngừng chảy vào Trung Quốc. Thời kỳ trăng mật Trung Mỹ dài tới 10 năm, mãi đến ngày 6 tháng 4 năm 1989 mới có dấu chấm. Trận đánh đó mang lại cho Trung Quốc cái gì? Mang lại cho Trung Quốc rất nhiều thời gian, rất nhiều nguồn vốn, rất nhiều kỹ thuật… Vì thế có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc đã được cất lên từ cuộc chiến tranh này…(14)
Nghiên cứu động cơ quả là khó, nhưng “cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng tòi ra”. Lưu Á Châu ở trong “ruột” của Đặng Tiểu Bình, “tòi ra” như thế, khó có ai phân tích cho ta hiểu rõ động cơ thực sự của việc Trung Quốc “dạy Việt Nam” bài học năm 1979, rõ hơn như thế. Qua hai ví dụ trên đủ cho thấy việc nghiên cứu động cơ chính trị, đối ngoại quan trọng, khó khăn, phức tạp biết nhường nào! Ngày nay không chỉ những nhà lãnh đạo quốc gia, các chính khách mới cần biết về động cơ của các quốc gia đối tác mà các đảng viên bình thường, các quan chức địa phương, các cán bộ đoàn thể, các doanh nhân và nhân dân cũng cần hiểu rõ động cơ của các đối tác, tránh bị người ta lừa phỉnh, dắt mũi, rồi trở tay không kịp! Các nhà tuyên huấn đừng đánh lừa nhân dân kiểu: “…Bắc Kinh, tay chị, tay anh triệu vòng/Bạn mừng ta những chiến công/Vui như tiền tuyến giữa lòng hậu phương…”!, rồi “Bên ni biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng là quê hương…”! Ngày nay mọi người dân Việt Nam đều cần hiểu: đằng sau những cái bắt tay, ôm hôn và khẩu hiệu “bốn tốt”, “mười sáu chữ vàng” của Trung Quốc là những thâm ý gì. Có vậy dân tộc ta mới khôn lên, biết cảnh giác, cùng đoàn kết bảo vệ và phát triển đất nước vững vàng được.
3. Lời kết
Trên đây chỉ điểm lại một số lý thuyết chủ yếu làm cơ sở cho việc tiếp cận những vấn đề thực tiễn rất đa dạng phức tạp của nghiên cứu động cơ. Bên cạnh nhiều lý thuyết khác về động cơ, bản thân mỗi lý thuyết trên cũng phát triển thành nhiều nhánh khác nhau. Do vậy tuỳ kiểu loại, tính chất của mỗi đối tượng, nên chọn lựa lý thuyết, cách tiếp cận, phương pháp phù hợp.
Đời sống xã hội ta đang diễn ra quá trình phát triển hết sức năng động, đa dạng, phức tạp. Nhiều tấm gương thành đạt, nhiều con người vượt khó khăn say mê sáng tạo, nhiều người dấn thân vào những hoạt động vì xã hội, bất chấp hiểm nguy … và cũng nhiều con người tha hoá ở mọi cấp độ, nhiều bạo lực, tội ác, hiểm họa… Tất cả bức tranh xã hội muôn màu sáng, tối đó là mảnh đất màu mỡ cho các đề tài nghiên cứu động cơ hoạt động của các cá nhân hay nhóm người. Kết quả nghiên cứu động cơ sẽ không chỉ có ý nghĩa thực tiễn trước mắt mà còn góp phần khái quát lý luận cũng như dự báo về “điềm lành, dữ” của xã hội trong tương lai gần và xa hơn.
02/2011
M. V. T.
Chú thích:
(1) Ai cũng thấy tình hình tội phạm ngày càng gia tăng nguy hiểm, nhưng tìm số liệu thống kê quá khó. Tuy nhiên số liệu sau đây trên báo CA TP HCM ngày 17/1/2010 cũng cho thấy phần nào tình hình tội phạm: “Năm 2009, toàn quốc xảy ra 50.963 vụ phạm pháp hình sự … Lực lượng công an đã điều tra khám phá 36.847 vụ, bắt giữ 48.496 đối tượng. Trong đó, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ xảy ra 13.650 vụ, chiếm gần 27% số vụ phạm pháp hình sự trong cả nước”…
(2) Xem Hồ Thích (1970) Trung Quốc Triết học sử, bản tiếng Việt của dịch giả Huỳnh Minh Đức, NXB Khai trí, Sài Gòn, Chương 4, tr. 198 - 199.
(3) Một số công trình Tâm lý học của A. N. Leonchiep (2003), Phạm Minh Hạc biên dịch và giới thiệu, NXB Giáo dục, HN., xem phần Hoạt động, ý thức, nhân cách, trang 270 – 275- 285…
(4) Phát biểu của Ngô Bảo Châu trong buổi Lễ chào mừng tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, tối 29/8/2010. (Báo Tiền Phong Online, 30/8/2010)
(5) Trích trong bài phát biểu trên của Ngô Bảo Châu.
(6) L.I. Bozhovic (1981), Nhân cách và sự hình thành nhân cách ở lứa tuổi trẻ em, NXB Giáo dục, HN.
(7) Đỗ Long chủ biên (1995), Hồ Chí Minh, những vấn đề Tâm lý học nhân cách, Chương trình NCNN KX07 xuất bản, HN.
(8) B.D. Smith, H.J. Vetter (2005), Các học thuyết về nhân cách, NXB Văn hoá Thông tin, HN., 2005, tr. 263 – 264…
(9) B.D. Smith, H.J. Vetter (2005),Các học thuyết về nhân cách, NXB Văn hoá Thông tin, HN., tr. 191…
(10) Cả hai vụ án trên có thể xem trên http://dantri.com.vn/ hay http://www.vietnamnet.vn.
(11) Phạm Minh Hạc (1983), Hành vi và hoạt động, Luận án TSKH, bản tiếng Việt, Viện Khoa học giáo dục, HN.
(12) Ví dụ, anh Đặng Vũ Thắng tố cáo nhóm quản lý Thảo cầm viên TP HCM tham nhũng, sau đó 1 người trong số họ đã thuê 4 tên chém thuê từ Hà Nội bay vào, đón đường, chém chết anh Thắng (17g chiều ngày 22/8/2001), rồi lĩnh tiền và bay ra Hà Nội… (tìm Vụ án Đặng Vũ Thắng trên Google Vietnam)
(13) Những đoạn “…” ở phần này đều trích từ lời nói đầu cuốn “Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương’’ của Francois Joyaux, do NXB Thông tin lý luận dịch, xuất bản vào tháng 3 năm 1981, được đăng trên anhbasam blog ngày 30/12/2010.
(14) Dương Danh Dy, Một gương mặt khác của Lưu Á Châu

Trà

Một muỗng trăng thanh xanh chén trà Người nơi xa đó có nhớ ta Cô đơn xanh trắng đêm từng nụ Một chút tương tư lọt thềm hoa