<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961</id><updated>2012-01-12T11:48:36.942+07:00</updated><category term='chính sách'/><category term='Crisis'/><category term='tập đoàn kinh tế quốc doanh'/><title type='text'>Phadzu</title><subtitle type='html'>Simply thinking, simply life</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>23</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-7905772945771414678</id><published>2012-01-12T11:43:00.000+07:00</published><updated>2012-01-12T11:43:08.521+07:00</updated><title type='text'>Tư duy kinh tế nào đã và đang giết chết từng ngành và toàn diện nền kinh tế Việt Nam?</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Phan Châu Thành&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Đặt vấn đề về Tư duy Kinh tế của Việt Nam&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Từ  hơn năm chục năm nay, tức là ngay trong và sau các cuộc chiến tranh,  khách quan mà nói, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam đã luôn có những  cố gắng tìm cách phát triển nền kinh tế mà họ định hướng là sẽ phải mang  tính xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng tại sao kết quả thì “Việt Nam vẫn là  nước nghèo”, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới vừa “hùng hồn” tuyên bố?  Thực tế, kinh tế nước Việt ta đang còn lùi xa sau các nước lân cận mà  trước đó, ngay cả khi trong những cuộc chiến tranh tàn khốc, nước ta vẫn  có Hòn ngọc Viễn Đông để vẫy gọi họ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Hơn  ba chục năm hoà bình ổn định là thời gian đủ dài để hai nước Á Đông lớn  trở thành cường quốc kinh tế thế giới là Nhật (số 3 thế giới) và Trung  Quốc (số 2 thế giới), hoặc để đa số các nước Đông Nam Á hoá rồng, như  Hàn Quốc (thứ 13 thế giới) hay Đài Loan, Hongkong hay Singapore (tốp  Rồng con), Malaysia hay Thái Lan (tốp đầu Đông Nam Á), chỉ riêng trừ  Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cứ tự mình “ưu việt” từ tốp đầu ĐNA lùi lại  chót!&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiện nay, rõ ràng ngay cả Philippines,  Myanma, Lào hay Cămpuchia cũng đã, đang và sẽ có khả năng bứt phá, vượt  qua Việt Nam trong 3-5 năm tới, làm câu hỏi trên càng thêm vô cùng nhức  nhối lòng mỗi người Việt có tự trọng và tư duy.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vậy,  các nước đã và sẽ hoá rồng bứt phá bằng những điều kiện ưu việt hơn ta?  Không, họ chỉ bứt phá bằng tư duy kinh tế khác. Đó không còn là vấn đề  đúng sai của các chiến lược, mô hình hay đường lối kinh tế của Đảng và  Chính phủ nữa, bởi vì vấn đề chiến lược các nước đều có thể học nhau và  tự điều chỉnh… Vấn đề là tư duy kinh tế nào của Đảng và Chính phủ đang  là cơ sở cho việc áp dụng các chiến lược kinh tế đó suốt mấy chục năm  nay mà không thay đổi?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tư duy kinh tế đó đã và  đang trói chân buộc cánh nền kinh tế Việt Nam vốn “hứa hẹn cất cánh” từ  1975, rồi lại được kỳ vọng “sẽ cất cánh” sau đổi mới 1986, rồi lại “đang  trên đường rồng bay” từ 2000, suốt cả hơn chục năm nay? Để rồi sắp hạ  cánh xưống vực thẳm trong 2012-2013?!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vậy, cái  gọi là tư duy kinh tế của Việt Nam là gì? Đó là tư duy kinh tế xã hội  chủ nghĩa mang tính thị trường hay tư duy kinh tế thị trường định hướng  xã hội chủ nghĩa, duy nhất chỉ Việt Nam có trên thế giới và na ná giống  một hệ tư duy kinh tế cũng duy nhất khác: kinh tế thị trường mang bản  sắc Trung Quốc… (thực ra thì ta copy cái tên và chế biến đồ cũ dùng  lại).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thực trạng kinh tế Việt Nam 2011: một câu hỏi lớn&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cuộc  “cất cánh” của nền kinh tế Việt Nam từ 1986 đến 2011 nghe chừng vẫn  đang trục trặc chưa tìm thấy “đường băng” đâu, mà chỉ thấy bản thân nó  đang bị rụng rơi từng “cánh” một…&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Rụng đầu tiên  là “cánh” “quả đấm thép” đóng tàu Vinashin. Nó cũng đã làm tan nát  chiến lược kinh tế biển quốc gia đến 2030 mà Vinashin đã được thủ tướng  và đảng đặt ở trọng tâm, ảnh hưởng tồi tệ đến không chỉ các ngành kinh  tế biển khác (như hàng hải, thuỷ sản, du lịch, dầu khí, năng lượng…) mà  cả khoa học biển và an ninh quốc phòng, cả vẹn toàn lãnh thổ quốc gia  trên biển.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tiếp theo là “cánh” “giấc mơ bốn bánh  ô tô” dần tan vỡ âm thầm trước khí lên tiếng chào đời, để cho La Dalat  của Miền Nam từ trước 1975 vẫn là đỉnh cao ngất ngưởng không thể vượt  qua. “Giấc mơ bốn bánh” kết thúc bằng thế giới đệ nhất thị trường xe hai  bánh (thị trường lớn nhất) cho 95% dân lao động và thế giới đệ nhất xe  sang (nhập ngoại) của quan chức và các đại gia “cùng nhóm” thân hữu. Tóm  lại là Việt Nam chắc chắn và mãi mãi sẽ không bao giờ có một mác xe nào  của mình ngoài La Dalat thân yêu!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;“Cánh” đường  sắt thì mới bị gãy trên “giấy” và “mồm” sau cơn cuồng ngộ đường sắt cao  tốc của Chính phủ, nay cũng chưa thể nâng cấp đường 1m thành 1,45m…,  điều thế giới cơ bản đã làm xong trong thế kỷ trước rồi. Dù vậy, Đảng ta  vẫn còn đang mong trở lại ước mơ đường sắt cao tốc mang màu sắc Trung  Quốc trong tương lai gần để đưa dân tộc “đi tắt vào tương lai”…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Còn  “cánh” ngành vật liệu cơ bản (thép, xi măng…), vốn chỉ biết bán nhân  công độc quyền kiếm lời trên sân nhà và xin chế độ bảo hộ, thì luôn thua  trắng nước ngoài và chỉ biết đổ lỗ cho thị trường nội địa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;“Cánh”  công nghiệp nặng và cơ khí chế tạo là “then chốt” của nền kinh tế đất  nước nửa thế kỷ nay thì đã gãy chốt từ trước 1986 mà chưa gắn chốt lại  được, và có lẽ kinh tế nước ta sẽ mãi mãi không có then chốt nữa, vì:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;·  “Cánh” cơ khí-luyện kim-chế tạo máy với hàng trăm hàng ngàn tiến sĩ  giáo sư vẫn chưa làm nổi các con bùlong đinh ốc cho chiếc xe máy, chứ  chưa nói đến cho các ngành công nghiệp nội địa, và còn phải đi học các  bác nông dân đang tự chế tạo máy móc nông cụ cho đến cả trực thăng… vài  trăm năm nữa? &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;· Các “cánh” điện tử, hoá chất,  nhựa cũng sẽ sắp tan chảy hay bốc khói… vì chỉ chuyên dùng máy móc và  công nghệ cũ của Trung Quốc, Đài Loan… thải ra, không chế được một con  chip, lắp được một cái handphone… &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;· “Cánh”  điện, nước, xăng, dầu, than, khoáng sản… thì luôn là hiểm hoạ tăng giá  sản xuất và sinh hoạt của xã hội lên không ngừng vì… kinh doanh lỗ! Lạ  thế, có tiền vốn, có độc quyền thị trường, có mọi chính sách hỗ trợ và  chỉ việc đào tài nguyên của Tổ tiên để lại lên mà bán mà cứ lỗ triền  miên trên “mỏ vàng vô tận” của đất nước…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tôi xin  nói riêng về “cánh” dầu khí trong dịp khác, vì khi nó gãy là thảm hoạ  kinh tế sẽ bao trùm tất cả, nền kinh tế quốc gia sẽ sụp đổ, quốc gia sẽ  sụp đổ…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chỉ có “cánh” buôn bán nông sản, hải  sản, và nhân công may mặc, giày da… là có lãi và có nhiều đóng góp tích  cực cho nền kinh tế, nhưng người lao động thì ngày càng vô sản và tương  lai ngành cũng hoàn toàn phụ thuộc thị trường “tư bản bóc lột” quốc tế  mà thôi.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Các cánh là nông nghiệp và kinh tế dân  doanh thì không thể rụng được, vì các nhân dân vẫn luôn còn đó, nhân dân  vẫn luôn phải tự nuôi mình, chỉ có điều họ không thể nuôi cả Đảng và  Chính phủ, quân đội. Nhung nông dân vẫn thiếu đói, cụ thể là Thanh Hoá  đang đói rộng (trên 240,000 dân đang thiếu đói 2011!).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chỉ có hai điểm sáng le lói cuối đường hầm kinh tế Việt Nam: kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Có mẫu số chung nào trong tình trạng đó của nền kinh tế nước ta hiện nay? Đó là tư duy kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thử lý giải hiện trạng và gọi tên nguyên nhân “gãy cánh”&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Thẳng  thắn mà nói, bản thân cách chúng ta phải liệt kê thất bại của các ngành  kinh tế Việt Nam như trên cũng đã nói nên nguyên nhân thất bại của nó  trong tư duy kinh tế, đó là cách &lt;i&gt;tư duy cục bộ&lt;/i&gt;, &lt;i&gt;tư duy chiến tranh&lt;/i&gt; và &lt;i&gt;tư duy chuyên ngành&lt;/i&gt;  của lý thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ khái niệm xã hội  chủ nghĩa ảo tưởng, đã quá lỗi thời vì sai lầm và đã bị cha sinh mẹ để  của nó bỏ đi, mà Việt Nam ta đã “xin giống về trồng” đến nay vẫn quyết  một lòng chăm bón.&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tư duy kinh tế cục bộ là  cách tư duy tách biệt theo đơn vị địa phương nhỏ cấp tỉnh, tách khỏi cả  nền kinh tế, không gắn liền và có quan hệ phụ thuộc hữu cơ với các bộ  phận khác, như chiến lược chiến tranh du kích vậy. Nó rất tiện cho quan  địa phương xâu xé, vì ngân sách quan trọng của nó là quĩ đất địa phương…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tư  duy kinh tế chiến tranh là cách tư duy xin-cho theo mệnh lệnh, nhiệm vụ  cụ thể, riêng biệt của mỗi ngành kinh tế, không cần biết đến mối quan  hệ của nhiệm vụ đó với các hoạt động kinh tế khác, giống như trong chiến  tranh chỉ đơn vị nào tập trung biết nhiệm vụ của mình giao từ cấp trên…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tư  duy kinh tế vĩ mô chuyên ngành, tức là từ cấp nhà nước người ta đã chia  nhỏ mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể rất vật chất và chuyên sâu cho từng bộ  ngành, được đo bằng nhiệm vụ chính trị trước rồi mới đến hiệu quả kinh  tế sau, rồi phân chia ngân sách (thuế và đi vay) cho từng ngành, để mỗi  ngành từ đó tự mà lo hoàn thành nhiệm vụ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tất cả  các ngành như một bầy bê con tranh nhau bú từ một bầu sữa bò mẹ, giữa  chúng không hề có quan hệ tương tác chung nào khác ngoài cùng bò mẹ,  hoặc quan hệ không được điều tiết bằng chính sách, mà chỉ bằng mệnh lệnh  của… bò mẹ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Như vậy, mục tiêu Đảng nhắm đến là  mỗi địa phương phải là một “pháo đài kinh tế” xã hội chủ nghĩa” – xưa là  cấp huyện (hơn 500 pháo đài), nay là cấp tỉnh (hơn 60); mỗi bộ ngành là  một “đầu máy kinh tế” xã hội chủ nghĩa độc lập” (nay: hơn 20 bộ và gần  20 tập đoàn, tổng công ty).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Từ tư duy đó, mỗi  trong hơn sáu chục tỉnh thành đều phải có đủ các ngành “thế mạnh”: công  nghiệp địa phương, các khu công nghiệp, các khu tiểu thủ công nghiệp,  khu thương mại, du lịch, phải có cả trường đại học của tỉnh, có y tế,  giao thông riêng… bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư duy của bộ  máy hành chính tỉnh, thành phố giống như tư duy của nguyên thủ quốc gia  thu nhỏ, thành các ông vua con địa phương.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Từ  tư duy đó, mỗi trong hơn ba chục bộ ngành nghề đều phải có đủ các các  khu công nghiệp chuyên các khắp các vùng, các tỉnh từ Bắc chí Nam  (Vinashin từng có trên 20 khu công nghiệp đóng tàu!), có các trường đại  học chuyên ngành, các viện nghiên cứu khoa học chuyên sâu, các trung tâm  tài chính riêng, các ngành công nghiệp phụ trợ riêng, các trường và  trung tâm đào tạo lạo động chuyên ngành riêng, hậu cần du lịch, y tế  riêng, bảo hiểm riêng… cũng bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư  duy của bộ máy hành chính các bộ ngành giống y như tư duy của văn phòng  chính phủ thu nhỏ, phải có đủ mọi lĩnh vực kinh doanh để “độc lập” (vơ  vét). Đấy là các chính phủ con.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tổng cộng (không  tính các lực lượng kinh tế của quân đội, công an, đảng, công đoàn, phụ  nữ, thanh niên… rất đông đảo và hùng hậu) trong nhà nước Việt Nam xã hội  chủ nghĩa ta có khoảng trên 120 “quốc gia và chính phủ con” như thế để  thực hiện một mục tiêu kinh tế xã hội bằng hàng trăm cách, hàng trăm  hướng độc lập và cạnh tranh nhau khốc liệt khác nhau, tất cả có đầy đủ  các hệ thống cung cấp dịch vụ riêng nội bộ giống như nhau: dịch vụ giao  thông, đào tạo, nghiên cứu, nhà ở, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng  khoán,… như loạn “120 sứ quân” vậy.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tôi đã từng  nghe các vị chủ tịch nhiều tỉnh thao thao trình bày tư duy kinh tế của  mình như một vị nguyên thủ quốc gia cao nhất, hay các vị Tổng Giám đốc  tập đoàn thao thao nói về các kế hoạch phát triển biết bao ngành nghề  trọn gói chỉ tự cho tập đoàn minh, cứ như một vị đứng đầu chính phủ lo  cơm áo cho cả quốc gia. Tư duy của 120 kẻ đứng đầu – “120 sứ quân” – như  vậy, đáng mừng hay đáng lo? Đảng thì mừng. Tôi thì lo, rất lo, cho dân.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ví  dụ “thủ tướng con”: Cựu Tổng Giám đốc tập đoàn Vinashin Trần Quang Vũ  từng chiêu đãi chúng tôi một bữa trưa thịnh soạn có món tôm sú hấp và  ông giới thiệu đó là tôm tập đoàn Vinashin nuôi trên mấy chục hecta chỉ  để cung cấp cho cán bộ công nhân viên các nhà máy đóng tàu ăn cũng không  đủ. Tôi xuống nhà bếp nói chuyện hỏi anh em thì họ nói bị tập đoàn ép  mua tôm đắt hơn ngoài chợ và họ phảỉ ăn mãi một món tôm đắt cả tuần,  hàng ngàn công nhân đều ớn mà không ai kêu đến tai ông Tổng được. Cũng  ông Vũ bữa khác còn khoe rằng tập đoàn ông đang đầu tư mấy trăm hecta  rừng trồng thông để cung cấp… cây thông Noel cho công nhân tập đoàn cả  nước! Kết quả của tư duy kinh tế Vinashin đó thế nào ta đã rõ…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ví  dụ “vua con”: Bí thư một tỉnh trung du duyên hải như Quảng Ninh có  nhiều đồi mà ít ruộng, lại quyết tâm mong muốn để mỗi huyện thị phải có  ít nhất 2-3 khu công nghiệp để hy vọng thu hút đầu tư; tỉnh có 13 huyện  thì vị chi sẽ phải có trên hai chục khu công nghiệp, sẽ lấy đi số lớn  đất ruộng nông nghiệp vốn rất ít ỏi của tỉnh. Với tư duy của các “vua  con” như vậy, cả nước đang có trên 300 khu công nghiệp và con số này sẽ  tiến đến 500 trong vài năm tới (đã qui hoạch xong). Trong khi đó,  Singapore là quốc gia chỉ có 5 khu công nghiệp nhưng có tổng thu nhập  năm 2010 trên 182 tỷ USD, gấp đôi Việt Nam – 86 tỷ USD). Tư duy tỉnh nào  cũng phải có nhiều khu công nghiệp để thu hút đầu tư làm nước ta có số  khu công nghiệp đã quy hoạch gấp 60 lần Singapore nhưng GDP bằng một nửa  của họ khi dân số gấp hơn 20 lần, tức hiệu quả kinh tế kém gấp khoảng…  hơn hai nghìn bốn trăm lần!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cơ sở của tư duy  theo ngành và địa phương và rồi của hệ thống tổ chức quân đội, chính  trị, xã hội trong cả nền kinh tế quốc gia như thế là do lý thuyết kinh  tế Mác-Lênin vốn chỉ coi trọng các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất,  không coi dịch vụ là ngành cũng làm ra giá trị đóng góp vào tổng thu  nhập quốc dân. Nay dù thu nhập quốc dân đã được tính gồm cả giá trị dịch  vụ (đến trên 40%) thì cơ cấu tổ chức nhà nước với các bộ ngành của ta,  các sở ban ngành của các tỉnh thành vẫn gần nguyên như cũ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiện trạng của tư duy kinh tế xã hội chủ nghĩa và kèm theo nó là các tổ chức kinh tế như trên làm:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Tổ chức kinh tế nặng nề, bùng nhùng, không có chỉ huy, kém linh hoạt và không hiệu quả: không thực sự đủ sức làm tốt việc gì;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Khó hạch toán minh bạch gây nhiều thất thoát, khó kiểm soát gây tham nhũng bùng phát bên trong các tổ chức;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;-  Chia quá nhỏ và dàn trải tiềm lực kinh tế, không tập trung được vốn cho  các khu vực trọng điểm; không thể chuyên sâu để có trình độ cao, chất  lượng tốt để cạnh tranh quốc tế;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Nhiều vấn đề  các ngành hay các địa phương không thể tự giải quyết được mà phải là  liên ngành và cấp trung ương cùng giải quyết như: đào tạo và cung cấp  nhân lực lao động phổ thông chất lượng cao, phát triển các ngành công  nghiệp phụ trợ chung, đầu tư phát triển các trung tâm nghiên cứu thí  nghiệm ững dụng liên ngành, các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên, chung,  và độc lập như bảo hiểm, tài chính, y tế, hay nghĩ dưỡng, du lịch…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Các vấn đề không được giải quyết vì không được nhìn ra lại càng tự lây lan hay thấm sâu và gây cản trở cho phát triển chung…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tư  duy kinh tế như vậy có thể gọi là tư duy kinh tế tự sát hay tư duy bị  ung thư, mà cái gen ung thư chính là hạt giống xã hội chủ nghĩa. Muốn  khỏi chết, chỉ có cắt bỏ khối ung thư.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Kinh tế  Việt Nam muốn phát triển thành Rồng, chỉ có một con đường: bỏ tư duy  định hướng xã hội chủ nghĩa. Thay nó bằng gì? Chả cần thay gì cả, Tư duy  kinh tế thị trường – hạt giống đã có trong khối kinh tế tư nhân và nước  ngoài, tự nó sẽ phát triển thay thế và phát huy tác dụng tốt cho cả nền  kinh tế và cả xã hội.&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-7905772945771414678?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/7905772945771414678/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=7905772945771414678' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7905772945771414678'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7905772945771414678'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2012/01/tu-duy-kinh-te-nao-va-ang-giet-chet.html' title='Tư duy kinh tế nào đã và đang giết chết từng ngành và toàn diện nền kinh tế Việt Nam?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-3130642928616187055</id><published>2011-11-01T12:42:00.001+07:00</published><updated>2011-11-01T12:43:01.303+07:00</updated><title type='text'>NGƯỜI NGOẠI QUỐC NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VN?</title><content type='html'>&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp; &amp;nbsp;&amp;nbsp;&lt;b style="font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: right;"&gt;TRẦN THÀNH NAM&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Tôi năm nay U60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập… Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="background-color: white; clear: both; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-LZNQTSkB3EQ/Tq4-E2LMLNI/AAAAAAAAF8M/kbwUdD_K_90/s1600/untitled.bmp" imageanchor="1" style="color: #006699; font: normal normal bold 96%/normal Arial, sans-serif; margin-left: 1em; margin-right: 1em; text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: small;"&gt;&lt;img border="0" height="200" src="http://4.bp.blogspot.com/-LZNQTSkB3EQ/Tq4-E2LMLNI/AAAAAAAAF8M/kbwUdD_K_90/s400/untitled.bmp" style="border-bottom-color: rgb(133, 112, 90); border-bottom-style: none; border-bottom-width: 1px; border-left-color: rgb(133, 112, 90); border-left-style: none; border-left-width: 1px; border-right-color: rgb(133, 112, 90); border-right-style: none; border-right-width: 1px; border-top-color: rgb(133, 112, 90); border-top-style: none; border-top-width: 1px; padding-bottom: 4px; padding-left: 4px; padding-right: 4px; padding-top: 4px;" width="400" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="background-color: white; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;Hình minh họa&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quí trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quí, Lương tâm Nhân loại…(!), và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị: Mỹ và TQ lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang TQ và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=157995146416951961&amp;amp;postID=3130642928616187055&amp;amp;from=pencil" name="more"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="background-color: white; clear: both; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-BMU1tUWBp6s/Tq4-PaXEQBI/AAAAAAAAF8U/gjAXeOBUSz4/s1600/untitled1.bmp" imageanchor="1" style="color: #006699; font: normal normal bold 96%/normal Arial, sans-serif; margin-left: 1em; margin-right: 1em; text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: small;"&gt;&lt;img border="0" height="273" src="http://3.bp.blogspot.com/-BMU1tUWBp6s/Tq4-PaXEQBI/AAAAAAAAF8U/gjAXeOBUSz4/s320/untitled1.bmp" style="border-bottom-color: rgb(133, 112, 90); border-bottom-style: none; border-bottom-width: 1px; border-left-color: rgb(133, 112, 90); border-left-style: none; border-left-width: 1px; border-right-color: rgb(133, 112, 90); border-right-style: none; border-right-width: 1px; border-top-color: rgb(133, 112, 90); border-top-style: none; border-top-width: 1px; padding-bottom: 4px; padding-left: 4px; padding-right: 4px; padding-top: 4px;" width="320" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;Hình minh họa&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau: Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy Lá cờ đó và lãnh đạo thế giới! Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng X với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm?). Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thể giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học? Ông hãy góp ý thế cho ĐH XI nhé! Chúc mừng ông.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="background-color: white; clear: both; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://2.bp.blogspot.com/-fe6boZpQ-ZQ/Tq4-UQHPSOI/AAAAAAAAF8c/m6Nn7SjiuJ4/s1600/untitled2.bmp" imageanchor="1" style="color: #006699; font: normal normal bold 96%/normal Arial, sans-serif; margin-left: 1em; margin-right: 1em; text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: small;"&gt;&lt;img border="0" height="320" src="http://2.bp.blogspot.com/-fe6boZpQ-ZQ/Tq4-UQHPSOI/AAAAAAAAF8c/m6Nn7SjiuJ4/s320/untitled2.bmp" style="border-bottom-color: rgb(133, 112, 90); border-bottom-style: none; border-bottom-width: 1px; border-left-color: rgb(133, 112, 90); border-left-style: none; border-left-width: 1px; border-right-color: rgb(133, 112, 90); border-right-style: none; border-right-width: 1px; border-top-color: rgb(133, 112, 90); border-top-style: none; border-top-width: 1px; padding-bottom: 4px; padding-left: 4px; padding-right: 4px; padding-top: 4px;" width="278" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;Hình minh họa&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc complements!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được. Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó: Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế: Gian và tham? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles! Có ăn nhằm gì đâu! Nó vẫn bảo lưu quan điểm! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó: “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao?” Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay.” Rồi nó tiếp: “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày!” “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham?” “Gần như đúng thế!” “Cả mày nữa?” “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…” “Vậy mày gian thế nào?” Bạn tôi lại cười bí hiểm: “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng chức to thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa… thì chúng tao mới bình đẳng được!” Rồi nó bồi thêm: “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à?!”&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="background-color: white; clear: both; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/-cty1lzm0hcM/Tq4-pfAeGFI/AAAAAAAAF8s/tuNGPR30JJs/s1600/untitled5.bmp" imageanchor="1" style="color: #006699; font: normal normal bold 96%/normal Arial, sans-serif; margin-left: 1em; margin-right: 1em; text-decoration: none;"&gt;&lt;span class="Apple-style-span" style="font-size: small;"&gt;&lt;img border="0" height="241" src="http://3.bp.blogspot.com/-cty1lzm0hcM/Tq4-pfAeGFI/AAAAAAAAF8s/tuNGPR30JJs/s320/untitled5.bmp" style="border-bottom-color: rgb(133, 112, 90); border-bottom-style: none; border-bottom-width: 1px; border-left-color: rgb(133, 112, 90); border-left-style: none; border-left-width: 1px; border-right-color: rgb(133, 112, 90); border-right-style: none; border-right-width: 1px; border-top-color: rgb(133, 112, 90); border-top-style: none; border-top-width: 1px; padding-bottom: 4px; padding-left: 4px; padding-right: 4px; padding-top: 4px;" width="320" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="separator" style="background-color: white; clear: both; font-family: Verdana, Geneva, sans-serif; text-align: center;"&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: center;"&gt;&lt;i&gt;Hình minh họa&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="MsoNormal" style="background-attachment: scroll; background-clip: initial; background-color: white; background-image: none; background-origin: initial; background-position: 0% 0%; background-repeat: repeat repeat; color: #444444; font-family: inherit; margin-bottom: 0.0001pt; text-align: left;"&gt;Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước. Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau, mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này?! để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham?! Người Việt gian tham ư?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta… Nó là cái văn hóa gì?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình. Dân tộc ta không phải thế! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi?&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-3130642928616187055?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/3130642928616187055/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=3130642928616187055' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/3130642928616187055'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/3130642928616187055'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/11/nguoi-ngoai-quoc-nhan-xet-ve-nguoi-vn.html' title='NGƯỜI NGOẠI QUỐC NHẬN XÉT VỀ NGƯỜI VN?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-LZNQTSkB3EQ/Tq4-E2LMLNI/AAAAAAAAF8M/kbwUdD_K_90/s72-c/untitled.bmp' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-1057323937928938970</id><published>2011-09-19T22:26:00.003+07:00</published><updated>2011-09-19T22:30:00.889+07:00</updated><title type='text'>Kinh tế không người lái</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;Nếu người dân Việt Nam ai cũng thông minh, hiểu biết như các  đại biểu Quốc hội của họ thì Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ chẳng phải lo lắng gì  về kinh tế cả. Mạng Vneconomy mới dẫn ra mấy lời tuyên bố của một ông đại biểu  Sài Gòn tên là Đỗ Văn Đương. Theo Vneconomy, ông Đương phát biểu như thế này:  “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực… Theo tôi phải xem lại chỗ  này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng  Hải tới 200 nghìn (đồng Việt Nam), nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục (nghìn)… Cần  xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi (lạm phát ở  Việt Nam) không phải là cao nhất”.&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=157995146416951961&amp;amp;postID=1057323937928938970&amp;amp;from=pencil" name="1327a4b7639ce838_more"&gt;&lt;/a&gt; &lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đó là ông Đỗ Văn Đương chưa sang du lịch bên Nga đấy nhé. Ở  Saint Petersburg, trong Quán Việt-Cafe chúng tôi được Trần Nguyên Thắng mời tới  ăn cho đỡ nhớ cơm, một đĩa rau muống xào nếu tình ra tiền Việt Nam giá tới 300  ngàn đồng lận! Gắp một cọng rau muống lên, cho vào miệng, cứ tưởng như mình đang  nhai cả mớ tiền, xót cả ruột! Đối với dân ăn rau muống, ở Việt Nam sung sướng  như trên thiên đường rồi! Muốn biết lạm phát ở Việt Nam thấp đến thế nào, mời  ông Đương thử qua Đan Mạch chơi.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="http://www.blogger.com/post-edit.g?blogID=157995146416951961&amp;amp;postID=1057323937928938970&amp;amp;from=pencil" name="more"&gt;&lt;/a&gt; &lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trước cửa quán Le Le Nhà Hàng bản thực đơn ghi một tô phở giá  135 đồng tiền bản xứ, tính ra thành 27 đô la Mỹ. Hơn 350 nghìn đồng Việt Nam một  bát phở Trời Đất ạ! Hay là qua Little Saigon, một ly “cà phê trong suốt” tính  đến (nghe nói) 5 đồng đô la, chắc đắt gấp trăm lần ly cà phê ở Sài Gòn chứ chẳng  ít!&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ông Đỗ Văn Đương đã đậu bằng Tiến Sĩ Luật. Không biết ở trường  bọn họ dạy ông những cái gì ngoài Tư tưởng Mác Lê Nin mà ông lơ mơ về kinh tế  đến thế! Nhưng đại đa số người Việt Nam may mắn không có bằng Tiến sĩ cho nên  vẫn chưa đến nỗi lú lẫn. Họ chỉ cần tính giá mớ rau muống ngày hôm nay so với  tuần trước là đủ biết thằng lạm phát nó cắn vào túi tiền của họ như thế nào.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Sáng 14-9 tại Hà Nội, Ngân hàng phát triển Á châu (ADB) họp,  báo cáo họ dự đoán lạm phát của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 18,7%. Mức lạm  phát như vậy là có giảm xuống so với năm ngoái, nhưng vẫn cao nhất trong khu vực  Á Châu. Ngân hàng ADB cũng hạ thấp dự đoán tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong  năm 2011. Năm tháng trước đây họ tính kinh tế Việt Nam sẽ lên thêm 6.1% đến  6.7%, nay nghĩ lại thấy chắc chỉ tăng được 5.8% mà thôi.&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Bình thường, khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp  hơn thì sẽ giảm áp lực lạm phát, ít khi thấy kinh tế vừa đình trệ lại vừa lạm  phát. Nhưng kinh tế Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Muốn bớt lạm phát, tất  cả mọi người phải giảm chi tiêu. Số tiền lưu hành trong nước phải giảm xuống.  Trong khi nhà nước bớt nhiều việc chi tiêu phí phạm để kinh tế không phồng lên  một cách giả tạo nữa, thì những người dân bình thường vẫn phải ăn, phải uống,  phải dùng xăng chạy xe ngoài đường, và buổi tối vẫn phải bật đèn điện. Giá điện,  giá xăng đều được chính ông Dũng cho tăng lên; riêng giá thực phẩm thì tự động  tăng không giảm, vật giá vẫn kéo nhau lên, mà không đổ tội cho một thế lực thù  nghịch nào cả. Giá sinh hoạt chung vẫn tăng, riêng trong đám dân nghèo mà phần  lớn tiền kiếm được đều chi vào việc ăn uống, tỷ lệ lạm phát thật còn cao hơn  20%. Nhưng phần chi tiêu của Đảng và Nhà nước, nếu nó cứ tăng thì người dân  không chịu trách nhiệm!&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đầu tháng Ba năm 2011, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Nghị  quyết số 11 ra lệnh guồng máy tài chánh đẩy tỷ số lạm phát xuống cho chỉ còn một  con số, dưới 10%, khoảng 7%, 8% thôi. Ông Dũng dùng tất cả các khí cụ ông nắm  trong tay để đẩy: Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp  nhà nước, vân vân. Tất cả cùng nhau đẩy. Nhưng, như chúng ta thấy, sau 6 tháng,  tác dụng của cái Nghị quyết 11 cũng giống như người ta cố đẩy một sợi dây thừng  vậy. Nó nhích đi được một chút, rồi thun lại, ỳ ra, không nhúc nhích, không còn  công hiệu nào nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tình trạng bi đát đến nỗi một nhà phân tích kinh tế trong nước  vừa mới nhận định: “Kinh tế Việt Nam thật sự đang ngắc ngoải trong tình trạng  đình lạm” (stagflation, tức là sản xuất đình trệ trong khi lạm phát vẫn cao, hai  hiện tượng thường không xảy ra cùng một lúc). Nhà kinh tế này còn tiên đoán:  “Chính phủ Việt Nam đang rất tuyệt vọng, từng bước thăm dò phản ứng để có thể  kết hối (tịch thu USD) và kết kim (tịch thu vàng) bất cứ lúc nào”. Để dẫn chứng  cho mối lo tịch thu vàng, bài nhận định trên nêu ra bản tin (Vnexpress,  23/8/2011) nói Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nguyễn Văn Bình đã “gợi ý” rằng:  “Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ vàng giùm cho dân”. Một câu nói đó có thể khiến cho  vàng cũng mọc cánh bay thật nhanh ra ngoại quốc, tất nhiên chỉ những người có  tài chắp cánh cho vàng mới chạy thoát!&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nghị quyết 11 đã được khen là “một bước ngoặt lớn về chính  sách” vì ông Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ chính sách cũ là cứ tung tiền ra cho các  doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu thoải mái. Bây giờ, các ngân hàng kiềm chế lại,  số tiền cho vay không được tăng tới 20% so với năm ngoái; ngân sách nhà nước  phải tăng thu khoảng 7% - 8% vân vân. Và bản Nghị quyết cũng không quên căn dặn:  “Đẩy mạnh thông tin - tuyên truyền;” cho guồng máy kinh tế nó lắng nghe rồi chạy  theo tiếng hô các khẩu hiệu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng guồng máy kinh tế nó điếc. Phương pháp điều hành kinh tế  bằng khẩu hiệu thời ông Mao Trạch Đông không còn hiệu quả nào trên kinh tế  cả.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Muốn bớt lạm phát thì phải giảm bớt chi tiêu, hàng hóa sẽ bớt  tăng giá hung hãn. Có hai khâu chính trong việc sử dụng tiền ở nước ta, là Nhà  nước và dân. Ông nhà nước ra lệnh cho các ông nhà nước khác bớt chi tiêu, nhưng  chưa chắc họ đã làm được. Còn những anh chị dân đen thì phần lớn những món chi  tiêu của họ là “tối thiểu,” không chi không sống được. Nhu cầu của một gia đình  dân, những ăn uống, quần áo, xăng dầu, không tăng hay giảm theo Nghị quyết của  Nhà nước. Còn về phần các bộ phận của nhà nước, thì có khi họ muốn mà cũng không  giảm chi tiêu được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Thí dụ, ngân sách Chính phủ vẫn thâm thủng 120 ngàn tỷ đồng  Việt Nam, tức là tiền chi ra nhiều hơn tiền thu vào, nhưng không bỏ được. Nhà  nước lại chi ra 15 ngàn tỷ đồng để cứu mấy ngân hàng nhỏ bị đe dọa phá sản,  không chi cũng không được. Lại còn cứu các thị trường chứng khoán nữa. Lo cho  các đại gia mua chứng khoán đang bị lỗ, Nhà nước đã bỏ ra 70 ngàn tỷ đồng để  nâng giá các cổ phần. Ngoài ra, còn những món tiền mà Ngân hàng Nhà nước đem chi  hoặc cho phép các ngân hàng thương mại đưa vào thị trường, ngoài tất cả dự liệu  của Nghị quyết 11, phải nói là phản lại bản nghị quyết này!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Theo lệ cũ, các ngân hàng thương mại chỉ được đem 80% tiền ký  thác của thân chủ mà cho vay. Nhưng theo Thông tư số 22 của Ngân hàng Nhà nước  mới đổi, từ ngày 1 tháng 9, 2011, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sẽ  được đem tất cả tiền người ta gửi ra cho vay. Như vậy thì không khác gì cho số  tiền lưu thông tăng vọt lên nhiều lần, không còn thấy cái giới hạn 20% của ông  Nguyễn Tấn Dũng đâu nữa! Theo Công ty Bảo Việt thì với Thông tư 22 này, từ đây  tới cuối năm, số tiền được phép tung ra cho vay sẽ lên tới 460 ngàn tỷ đồng! Cái  Thông tư 22 coi như đã hủy bỏ mọi tác dụng của Nghị quyết 11! Cho nên, Ngân hàng  Standard Chartered tiên đoán trong bốn tháng cuối năm nay lượng tiền tệ lưu hoạt  (M2) ở Việt Nam sẽ tăng tới 196 ngàn tỷ, so với năm ngoái chỉ có 172 ngàn tỷ.  Càng có nhiều tiền trong kinh tế thì lạm phát càng cao. Người dân biết vậy, cho  nên ai có tiền cũng lo đi mua vàng, mua đô la!&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Rồi lại thêm chính sách lãi suất nữa. Ông Thống đốc Ngân hàng  trung ương ra Chỉ thị số 2, bắt các ngân hàng thương mại không được trả lãi suất  trên 14% cho các người gửi tiền. Giữa tháng Chín, các ngân hàng báo cáo người ta  ào ào rút tiền ra khỏi ngân hàng. Trong một tuần, có ngân hàng bị rút 1,000 tỷ  đồng. Chưa tới cảnh “tiền bỏ chạy” (bank run) nhưng cũng mấp mé. Nhưng họ rút  hàng tỷ đồng rồi đem đi đâu? Không ai báo cáo, nhưng ai cũng hiểu: Người ta đi  mua vàng và đô la. Các đại gia bán vàng và đô la rồi họ đem tiền cất đi đâu, sao  không thấy chúng trở lại với các ngân hàng? Cái này thì chỉ các đại đại gia mới  biết!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng khi ngân hàng trung ương bắt các ngân hàng thương mại  “giảm lãi suất” xuống dưới 14% thì đó là một bước hoàn toàn đi ngược lại với mục  tiêu chống lạm phát của Nghị quyết 11. Vì xưa nay, khi muốn chống lạm phát thì ở  đâu người ta cũng tăng lãi suất cho người ta bớt vay được tiền mà chi tiêu,  không ai giảm lãi suất bao giờ! Chắc chỉ có đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Đương mới  có thể nghĩ ra cách chống lạm phát bằng cách giả lãi suất, sau khi đi Thượng Hải  nếm rau muống Tàu!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cái chỉ thị đặt mức lãi suất tối đa (trần lãi suất) đã vô hiệu,  vì nhiều ngân hàng vẫn lén trả lãi suất cao hơn 14% để có tiền kiếm ra tiền  khác, nhất là các ngân hàng ở xa thì không sợ ai cả. Các quan đầu tình cũng  không sợ lệnh từ trung ương. Họ phải phê duyệt càng nhiều dự án trong địa phương  mình càng tốt. Càng nhiều dự án thì càng thêm cơ hội chấm mút, trước khi phải  đổi đi nơi khác. Quan đầu tỉnh bảo ngân hàng trong tỉnh cho vay thì ai dám cãi.  Chỉ tiêu lạm phát là mấy phần trăm cũng chẳng ai cần biết tới!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhìn thấy những nghị quyết và thông tư với khẩu hiệu và hành  động trái ngược nhau, cuối cùng không biết ai đang cầm tay lái cho con tàu kinh  tế Việt Nam. Có thể gọi là một nền kinh tế không người lái. Trong khi đó thì  những nguồn ngoại tệ đang giảm, số đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho tới số  tiền người Việt ở ngoài gửi về đều bớt đi. Cán cân thương mại trong tám tháng  đầu năm 2011 đã bị thủng 10 tỷ đô la, so với khoảng 8 tỷ trong cùng thời gian  năm ngoái.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ông Tomoyuki Kimura của Ngân hàng phát triển Á châu, mới nói  trong phiên họp ở Hà Nội, rằng muốn “giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của  tình trạng lạm phát cao thì phải có những nỗ lực lớn hơn trong việc cải cách cơ  cấu nền kinh tế”. Nhưng nếu không thay đổi chính trị thì ai thay đổi cơ cấu kinh  tế bây giờ? Những đại biểu Quốc hội như Tiến sĩ Đỗ Văn Đương có sẵn sàng đứng ra  lèo lái con tàu kinh tế nước nhà hay không?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ngô Nhân Dụng&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(Nguồn: &lt;a href="http://www.diendantheky.net/2011/09/thoi-su-kinh-te-kinh-te-khong-nguoi-lai.html"&gt;diendantheky.net&lt;/a&gt;)&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-1057323937928938970?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/1057323937928938970/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=1057323937928938970' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1057323937928938970'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1057323937928938970'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/09/kinh-te-khong-nguoi-lai.html' title='Kinh tế không người lái'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-2907368982769091072</id><published>2011-06-14T09:42:00.002+07:00</published><updated>2011-06-14T09:42:32.903+07:00</updated><title type='text'>Tổn thất do ô nhiễm môi trường Việt Nam có thể lên tới 5,5% GDP/năm</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Chưa có đô thị nào được công nhận xanh - sạch&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt; &lt;div align="left"&gt; &lt;table align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width: 349px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="328"&gt; &lt;a href="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=144516"&gt;&lt;img alt="clip_image002" border="0" height="225" src="http://lh3.ggpht.com/-d5YTgoM-fmA/Tfa52jpKcEI/AAAAAAAACQc/8I7y7L1higQ/clip_image002%25255B3%25255D.jpg?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: block; float: none; margin: 5px auto; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="clip_image002" width="300" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="justify"&gt;Kênh rạch ô nhiễm ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của người dân.  &lt;b&gt;Ảnh: Lê Quỳnh&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt; &lt;td width="19"&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;SGTT.VN - Ngày 10.6, tại Hà Nội, bộ Tài nguyên &amp;amp; Môi  trường (TN&amp;amp;MT) đã công bố báo cáo môi trường quốc gia 2010. Theo báo cáo  này, tốc độ suy thoái môi trường ở nước ta tiếp tục gia tăng, Việt Nam xếp vào  nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về suy giảm số loài thú, nhóm 20 nước hàng đầu về  suy giảm số loài chim. Ngân hàng Thế giới đánh giá, chúng ta có thể phải chịu  tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP mỗi năm.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Môi trường nước mặt ở hầu hết các đô thị và ở nhiều lưu vực  sông đều bị ô nhiễm chất hữu cơ. Ở hầu hết các sông, hồ, kênh, rạch trong nội  thành, nội thị, trị số hàm lượng các chất ô nhiễm của các thông số đặc trưng ô  nhiễm hữu cơ đều vượt trị số giới hạn tối đa cho phép đối với nguồn nước loại B  từ 2-6 lần. Đây là thông tin do TS Hoàng Dương Tùng, phó tổng cục trưởng tổng  cục Môi trường cho biết tại hội nghị.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tại TP.Hà Nội và TP.HCM, ô nhiễm chất hữu cơ trong môi trường  nước mặt và ô nhiễm bụi trong môi trường không khí vào loại nhất nhì thế giới.  Hầu hết chưa có đô thị nào được công nhận là đô thị sạch/đô thị xanh (nước sạch,  không khí sạch, đất sạch). Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị đáng lo  ngại.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Nhìn lại môi trường cả nước 5 năm qua, các chuyên gia môi  trường không khỏi giật mình lo ngại khi hiện nay khoảng 70% trong số hơn 1 triệu  m&lt;sup&gt;3&lt;/sup&gt; nước thải/ngày từ các khu công nghiệp xả thẳng ra các nguồn tiếp  nhận không qua xử lý, gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt trên diện rộng. Ô nhiễm  môi trường làng nghề, ô nhiễm nông nghiệp do sử dụng không hợp lý phân bón hóa  học, thuốc bảo vệ thực vật.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Bệnh tật kéo theo ô nhiễm&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Báo cáo cho hay, các đô thị bị ô nhiễm không khí có tỷ lệ người  nhiễm khuẩn hô hấp cao gấp nhiều lần so với các đô thị khác. TP.HCM, Đồng Nai,  Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh thuận.. tỷ lệ bệnh nhân lao phát hiện năm 2008 tại  các địa phương này cao gấp 4-5 lần so với các địa phương ít có phát triển hoạt  động công nghiệp như Bắc Kạn, Điện Biên.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một nghiên cứu về ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe  cảnh sát giao thông làm việc tại một số nút giao lộ ở TP.HCM cũng cho thấy, dù  tỷ lệ cảnh sát giao thông đạt sứ khỏe loại tốt là 74,4% nhưng nhiều người mắc  đồng thời nhiều bệnh, thậm chí hơn 3 bệnh. Nổi bật trong cơ cấu bệnh của cảnh  sát giao thông là bệnh về tai mũi họng. Kết quả nghiên cứu đến tháng 12.2010 của  cục Y tế bộ Giao thông vận tải cho thấy tỷ lệ người bị bệnh đường hô hấp ở Hà  Nội cao hơn TP.HCM. Một trong những nguyên nhân chính được xác định là do môi  trường không khí ở Hà Nội ô nhiễm hơn.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một nghiên cứu nữa khi các nhà khoa học thực hiện nghiên cứu  đối chứng giữa 2 xã chịu ảnh hưởng của bãi rác thải là Quảng Lạc và Hoàng Đồng  (nhóm nghiên cứu) và 2 xã không có bãi rác là Hợp Thịnh và Mai Pha (nhóm đối  chứng) ở Lạng Sơn. Kết quả nhóm nghiên cứu có tỷ lệ người ốm trong 2 tuần cao  hơn nhóm đối chứng (10,2% và 6,7%). Triệu chứng các bệnh như da liễu, viêm phế  quản, đau xương khớp của nhóm nghiên cứu có tỷ lệ cao hơn hẳn so với nhóm đối  chứng.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Kết quả điều tra tại Phú Thọ và Nam Định, ước tính thiệt hại  kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khỏe trung bình trên đầu người mỗi  năm là 295.000 đồng. Đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phải chịu  tổn thất do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Ô nhiễm xuyên biên giới chưa được kiểm soát&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, ô nhiễm xuyên biên  giới chưa được kiểm soát cũng là một mối đáng lo. Việc nhập khẩu phế liệu lẫn  rác thải công nghiệp nguy hại về các cảng diễn ra từ nhiều năm nhưng vẫn chưa có  giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, và xử lý hiệu quả đã gây ra những hệ lụy xấu,  ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh môi trường quốc gia. Tình trạng sinh vật  ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn, tình trạng khai thác khoáng  sản phá hoại môi trường cũng gây ra những hệ lụy xấu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;PGS. TS Nguyễn Đình Hòe, khoa Môi trường, đại học KHTN (ĐHQG Hà  Nội) cho biết, theo số liệu thống kê, tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam đạt  khoảng hơn 830-840 tỷm3/năm, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước  ngoài. Hiện nay, mỗi năm chúng ta đang sử dụng 400 tỷ m3 nước. Điều này cho thấy  nước ta đang phụ thuộc vào nguồn nước chảy từ nước ngoài đến. Ngoài ra việc dùng  nước lãng phí và làm ô nhiễm tất cả hệ thống sông ngòi nội địa, khiến cho mối de  dọa an ninh nước ở Việt Nam rất đáng báo động.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;PGS. TS Trương Mạnh Tiến, nguyên giám đốc quỹ Bảo vệ môi trường  cho rằng, cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bởi nhân lực chính là cái  cốt lõi trong việc bảo vệ môi trường. Hệ thống quan trắc của Việt Nam quá kém và  cần phải được hiện đại hóa trong tương lai, cũng là ý kiến được nhiều chuyên gia  nhắc tới. Bởi khi hệ thống quan trắc được hoàn thiện, sẽ có những số liệu trung  thực nhất, nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp  luật bảo vệ môi trường, tăng cường sự tham gia của cộng đồng... sẽ giúp Việt Nam  giảm thiểu được tình trạng ô nhiễm môi trường luôn trong tình trạng chạy phi mã.&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-2907368982769091072?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/2907368982769091072/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=2907368982769091072' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2907368982769091072'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2907368982769091072'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/06/ton-that-do-o-nhiem-moi-truong-viet-nam.html' title='Tổn thất do ô nhiễm môi trường Việt Nam có thể lên tới 5,5% GDP/năm'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://lh3.ggpht.com/-d5YTgoM-fmA/Tfa52jpKcEI/AAAAAAAACQc/8I7y7L1higQ/s72-c/clip_image002%25255B3%25255D.jpg?imgmax=800' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-1609787382798090507</id><published>2011-06-12T15:09:00.000+07:00</published><updated>2011-06-12T15:09:48.682+07:00</updated><title type='text'>Những lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây, có nhiều người trong giới  tu hành Phật giáo hướng đến các khoa học về con người, đặc biệt là khoa học về  thần kinh não bộ để tìm trong đó những cơ sở thực chứng khách quan của con đường  rèn luyện nội tâm. Những phát triển mới trong nghiên cứu khoa học về bộ não và  nhất là các kỹ thuật đo lường và chụp ảnh những hoạt động của não cho phép một  số nhà tu hành đặt mình vào vị trí đối tượng nghiên cứu của khoa học thần  kinh.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Chúng tôi có duyên được gặp Thiền sư Thích Thông Triệt, thiền  chủ Thiền viện Tánh không (Hoa Kỳ) nhân dịp ông qua Pháp giảng dạy. Thiền sư  Thích Thông Triệt là người đã rất nhiều năm đeo đuổi ước vọng dùng các hiểu biết  khoa học để soi sáng quá trình tu tập. Thiền sư là soạn giả cuốn sách “&lt;i&gt;Thiền  dưới ánh sáng khoa học&lt;/i&gt;”, ấn hành năm 2010 (sách được dịch qua Pháp ngữ với  tựa đề “&lt;i&gt;Zen sous l'éclairage de la science&lt;/i&gt;” và Anh ngữ  “&lt;i&gt;Zen in the  light of science&lt;/i&gt;”).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cuốn sách này mô tả lại các thực nghiệm với các máy đo điện não  đồ và cộng hưởng từ, mà các nhà não học thuộc trường đại học Tubingen (Đức) tiến  hành trong vòng 5 năm (2006-2010) trên đối tượng là bản thân Thiền sư và các  Thiền sinh theo học kỹ thuật Thiền Tánh Không.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trước khi ông lên máy bay trở về Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp được  gặp Thiền sư Thích Thông Triệt tại thiền đường Hội thiền Tánh không Paris  (Association Méditation Sùnyatà). Sau đây là những lời giải thích mà Thiền sư đã  dành cho chúng tôi về chủ đề này.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Xin kính chào Thiền sư. Hôm nay có dịp được  Thiền sư cho phép gặp mặt và nhận lời nói chuyện với Đài, và qua Đài chuyển  tiếng nói đến những thính giả, những người Việt Nam, hoặc những người nghe và  hiểu tiếng Việt, để biết được con đường tu hành của đạo Phật dưới sự soi sáng  của khoa học thần kinh hiện đại. Cụ thể là tu tập theo pháp môn  &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;Thiền&lt;/i&gt;”&lt;i&gt; và những tác động của nó đến đời sống hàng ngày của mình,  và để nó giúp mình giải quyết các vấn đề khó khăn, mà nhiều người tự bản thân  còn lúng túng chưa biết giải quyết ra sao trước những trở ngại tinh thần, tâm  lý, sức khỏe bệnh tật. Theo Thiền sư, pháp môn Thiền có thể đem lại những gì cho  những người bình thường bị rơi vào trạng thái như vậy?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Trước hết, chúng tôi cám ơn  anh Trọng Thành, đại diện cho Đài phát thanh Quốc tế Pháp đặt câu hỏi. Chúng tôi  xin trả lời rằng, Thiền là do Đức Phật Thích Ca, Ngài đã tự tu và tự mình kinh  nghiệm được những gì mà Ngài đã khắc khoải trước đó. Sau đó, Ngài đã thành tựu.  Ngài dạy lại, và pháp môn Ngài dạy lại đó thực sự là pháp môn tu Thiền. Mà Thiền  của Đức Phật nhắm làm sao giúp con người điều chỉnh lại nhận thức của mình. Vì  chính nhận thức đó đưa đến cho con người khổ não, trầm luân, hay là giải  thoát.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Thành ra, khi hướng dẫn người thực hành Thiền, chúng tôi nhắm  khai triển những phần nào mà làm cho con người được hài hòa thân tâm của mình,  và phát huy được trí tuệ tâm linh của chính mình. Cho nên phần đó, chúng tôi  thường dẫn chứng bằng “&lt;i&gt;Pháp&lt;/i&gt;” mà Đức Phật đã thành tựu được. Đó là  &lt;i&gt;pháp&lt;/i&gt; thở. Từ nơi pháp thở đó, chúng ta có khả năng điều chỉnh lại được sự  rối loạn bên trong não bộ của chúng ta. Phần đó sẽ được giải thích hơn, nếu mà  người đọc có nhu cầu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Tìm ra cơ chế để “&lt;i&gt;vọng tưởng&lt;/i&gt;”&lt;/b&gt; &lt;b&gt;không xuất  hiện&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: Thưa Thiền sư, Thiền sư có thể giải thích vì sao  Thiền sư đã đi tìm những cơ sở khoa học và đặc biệt là cơ sở về bộ não con người  để mà phối hợp với các biện pháp trong đạo Phật, do Phật truyền lại? Vì sao  Thiền sư quyết định làm như vậy?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Điều này nói ra nó hơi dài.  Nhưng nếu mà em muốn nghe, thì chúng tôi sẽ nói ra. Ngày nay, Thiền thật sự là  một môn tu cũ rồi, nhưng mà nó lại trở nên mới. Lý do là, Thiền đã có trên thế  gian này hơn 2.500 năm rồi. Tức là sau khi Đức Phật thành đạo, bằng Thiền. Ngài  dạy lại các phương pháp của ngài cũng bằng Thiền.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng mà vì nó khó quá, nên người này chế ra phương pháp này,  người kia chế ra phương pháp kia. Mục đích để làm cho tâm mình nó yên lặng thôi.  Thành ra, những cái chế đó ấy, các sáng tạo, sáng chế đó làm cho Thiền càng thêm  rối bời thêm ra. Mỗi người làm theo ý mình, rốt cuộc nó loạn ra. Có cả triệu  (phương pháp), chứ không phải ngàn đâu. Trải qua 25 thế kỷ rồi, người thực hành  Thiền rất khó khăn. Đứng trước rừng Thiền, một cánh rừng già dày đặc, muốn vô  làm sao vô đây.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chính bản thân tôi ngày xưa cũng vậy đấy. Chúng tôi đã thất bại  khi áp dụng các phương pháp cũ. Đó là người ta giảng sao mình làm theo vậy.  Nhưng rồi, có điều bật ra từ trong não chúng tôi, chúng tôi tự giải đáp trong  não mình. Tức là đừng có “&lt;i&gt;nói thầm&lt;/i&gt;”! Nói thầm hoài thì “&lt;i&gt;vọng  tưởng&lt;/i&gt;” có hoài. Vì chủ trương của Thiền là dập tắt vọng tưởng, tức là những  ý nghĩ miên man trong đầu khởi lên lên. Người này chế ra cách này, người kia chế  ra cách kia để dập tắt vọng tưởng. Chúng tôi làm đủ hết mọi cách, nhưng không  làm sao dừng được những sự “&lt;i&gt;nói thầm&lt;/i&gt;” trong đầu của chúng tôi. Thực sự  lúc đó, chúng tôi không biết đó là sự “&lt;i&gt;nói thầm&lt;/i&gt;”, chúng tôi cho rằng, đó  là “&lt;i&gt;vọng tưởng&lt;/i&gt;” thôi. Nhưng rút cục chúng tôi nhận ra rằng: A ! Cái gọi  là “&lt;i&gt;vọng tưởng&lt;/i&gt;” chính là sự “&lt;i&gt;nói thầm&lt;/i&gt;” trong não mình đó. Bây giờ  phải làm sao cho yên lặng cái đó đi thì mới được. Từ đó chúng tôi thực tập bằng  cách không nói thầm.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Xin cắt ngang ở đây để Thiền sư giúp giải thích:  “nói thầm” thì những biểu hiện ra sao, và tác hại của nó như thế nào?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Khi nói thầm, đó là cơ chế  của “&lt;i&gt;tưởng&lt;/i&gt;”. Trong não bộ của mình, nó có một cơ chế… Nhưng hồi đó, chúng  tôi không biết cơ chế não bộ. Từ trong đầu nó khởi lên cái “&lt;i&gt;niệm&lt;/i&gt;”. Nói  qua nói lại với nhau. Tức là mình nói qua nói lại với mình về một chuyện gì đó  do những hình ảnh trong tâm mình khởi lên. Mình chạy theo hình ảnh đó để mình  nói, nói rồi, tâm xúc cảm mình nó đi theo hình ảnh đó. Thành ra nội tâm không  bao giờ yên lặng được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Cái nói thầm như Thiền sư nói có thể chuyển sang  diễn đạt khác là đối thoại bên trong có đúng không?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Đúng rồi, từ chỗ nói thầm  ban đầu, rồi đối thoại thầm lặng bên trong không bao giờ dứt. Thành ra, từ  chuyện không có gì hết bắt đầu mình vẽ ra, mình sợ hãi, mình phiền muộn, mình  giận tức luôn nữa. Nhiều khi “&lt;i&gt;nó&lt;/i&gt;” xúi mình giết người ta đi, hay làm  những chuyện tầm bậy, tầm bạ. Vì sự đối thoại thầm lặng đó đấy. Khi chúng tôi  phát hiện lối đó, chúng tôi áp dụng cách không nói thầm&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Kinh nghiệm tu tập trong trại cải tạo&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Thiền sư phát hiện điều này vào thời điểm nào và  có phải là trước khi Thiền sư bước vào nghiên cứu não đồ và các cấu trúc não  liên quan đến quá trình Thiền?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt: Đúng rồi, lúc đó là vào năm 1982,  khi tôi ở ngoài Bắc, tại trại Thanh Liệt. Chúng tôi phát hiện được rằng: Ồ, cái  “&lt;i&gt;niệm&lt;/i&gt;” (hay vọng tưởng) mà mình muốn dừng lại đó chính là từ sự nói thầm,  khi dừng sự nói thầm thì cái niệm dừng, cái vọng tưởng dừng. Từ đó chúng tôi  hiểu rằng không nói thầm thì dẹp tan các vọng tưởng. Từ đó chúng tôi trở nên an  tịnh nội tâm được. Từ đó chúng tôi dụng công tu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hai năm đầu, từ năm 1975 đến năm 1977, chúng tôi “&lt;i&gt;được&lt;/i&gt;”  người ta nói là già 80 tuổi, thực sự lúc đó chúng tôi chỉ hơn 40 tuổi thôi.  Chúng tôi không biết sao mình già mà mới có hai năm thôi. Rồi, chúng tôi tiếp  tục riết cho tới năm 1982, khi chúng tôi ra miền Bắc. Thì chúng tôi nhận ra  rằng: sự đối thoại thầm lặng hay sự nói thầm trong não của chúng tôi nó đưa đến  thân tâm tàn tạ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Lúc đó, có thể nói là Thiền sư đang ở trong trại  cải tạo. Phải chăng điều kiện khắc nghiệt và khổ sở, cô lập trong trại như vậy  khiến Thiền sư rơi vào trạng thái này?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Không phải, lúc đó chúng tôi  ở trong trại cải tạo như vậy, nhưng lúc đó nó là điều kiện thích hợp cho việc tu  hành của chúng tôi, vì chúng tôi đâu có tiếp xúc với bên ngoài nữa. Đó là một  điều kiện thuận lợi cho việc tu Thiền của mình thôi. Tu Thiền là để dừng vọng  tưởng, nhưng lúc đó tôi không biết đấy là gì. Khi mà tôi nhận ra được vọng tưởng  là sự nói thầm, điểm mấu chốt, thì chúng tôi thực hành để làm sao làm chủ được  sự nói thầm đó. Cho nên chúng tôi nói rằng, cái mà &lt;i&gt;Thiền tông&lt;/i&gt; gọi là  “&lt;i&gt;diệt vọng&lt;/i&gt;” thì không đúng, mà mình phải làm chủ vọng tưởng mới được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Từ khi chúng tôi áp dụng cách không nói thầm trong não, thì trở  nên một cậu thanh niên đẹp, trẻ, mà không phải là ông già 80 nữa. Bằng chứng là  khi ông cán bộ đưa chúng tôi về Hà Tây, thì chúng tôi thấy rằng, những người kia  như những con khỉ già, hốc hác. Ông cán bộ nói rằng, trong số các anh đây, anh  này này ở đây lâu mà sao lại hồng hào. Nghe như thế, chúng tôi nói, à, như thế,  chúng tôi thực hành đúng rồi đó. Đúng như thế nào, cái “&lt;i&gt;nước&lt;/i&gt;” gì giúp cho  tôi, thì thực sự chưa biết được. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, phải có cái chất gì,  cái “&lt;i&gt;nước&lt;/i&gt;” gì trong đầu chúng tôi tiết ra đó để làm cho tôi được trẻ,  trong sáng. Đấy là cái ý tưởng đầu tiên nó ghi trong đầu tôi là như thế.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Hiểu biết khoa học về não giúp cho thời gian tu tập được rút  ngắn&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Như thế là, bắt đầu từ cái kinh nghiệm đầu tiên  mà Thiền sư cảm nhận được vào thời điểm năm 1982, đấy là khởi điểm mà Thiền sư  tiếp tục đi về hướng nghiên cứu về quan hệ giữa bộ não và quá trình Thiền. Thiền  sư có thể nói một cách rất đơn giản để thính giả bình thường có thể hiểu được  là, nghiên cứu về não tạo điều kiện như thế nào cho việc hiểu về cơ chế của  Thiền?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Nếu hiểu biết về cơ chế của  não bộ, thì một là mình thực hành mà không sợ sai lạc. Thứ hai là mình đốt được  thời gian, thu ngắn được thời gian. Thay vì mình phải thực hành để khắc chế vọng  tưởng, hay làm cho vọng tưởng không khởi lên nữa, thì mình không cần. Mình chỉ  đi vào cơ chế là: không khởi niệm vọng tưởng nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong não bộ cần phân biệt hai vùng. Vùng phía trước và vùng  phía sau. Vùng phía sau theo thuật ngữ Thiền gọi là cơ chế của “&lt;i&gt;Tánh  giác&lt;/i&gt;”. Mình đi vào cơ chế này mà thực hành thì lẹ hơn là vào cơ chế phía  trước. Ở phía trước, bên não phải là ý thức, bên trái là ý căn, ý trí năng. Bộ  phận đó là thuộc về “&lt;i&gt;tâm đời&lt;/i&gt;”, tâm của người phàm phu, cứ dính mắc chuyện  này, chuyện kia đó.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chúng tôi nói rằng, cho mày nằm yên đó đi, tao đi vào ngõ này  thôi. Chúng tôi “&lt;i&gt;pha”&lt;/i&gt; (tức “&lt;i&gt;bỏ qua&lt;/i&gt;” – tiếng địa phương Nam Bộ) cái  vùng phía trước và đi thẳng vào phía sau. Phía sau là cơ chế của “&lt;i&gt;Tánh  giác&lt;/i&gt;”. Đi thẳng vào vùng phía sau thì phải biết các đặc tính của nó, chức  năng của nó là gì. (Cơ chế đó) là biết mà không có lời nói thầm.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cho nên bây giờ chúng tôi hướng dẫn Thiền, chúng tôi  “&lt;i&gt;pha&lt;/i&gt;” (bỏ). Chúng tôi biết rằng chúng ta có cơ chế phía trước như vậy, mà  cơ chế này nó dính mắc, do những truyền thống nó ghi sâu đậm trong tâm mình,  những day rứt nội tâm của mình nó tiềm tàng trong đó, những đam mê của mình nó  tiềm tàng trong đó. Thế thì bây giờ một lúc làm sao mình gạt được những cái tâm  đó được. Cho nên chúng tôi nói, thôi (cái vùng phía trước) cứ nằm yên đấy đi,  chúng tôi hướng dẫn người thực hành đi thẳng vào cơ chế của “&lt;i&gt;Tánh  giác&lt;/i&gt;”.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chúng tôi dạy học trò, nhưng lúc đó chúng tôi dạy nhưng chưa  chứng minh được qua chụp hình não bộ. Phải đợi đến năm 2006, chúng tôi mời nhờ  các học trò của chúng tôi ở bên Đức, liên lạc với các nhà não học ở bên Đức, hai  ông Erb và Sitaram. Cho đến khi chụp hình não bộ được, thì chúng tôi mới biết cụ  thể các vùng đó nằm ở đâu. Bây giờ chúng tôi hướng dẫn người thực hành Thiền đi  thẳng vào cơ chế phía sau để làm sao làm yên lặng được nội tâm mình, mà mình  không mất nhiều thời gian.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Như hôm qua, chúng tôi giảng dạy ở Poitiers, toàn là những  người mới không, chưa bao giờ học Thiền. Cho họ vô, họ đi thẳng. Và họ thấy họ  điều khiển được trạng thái rối bời của tâm họ. Nên chúng tôi thấy rằng, ngày  nay, mình thực hành Thiền không mất nhiều thời gian. Ban đầu cần phải chỉ cho họ  biết các vùng cụ thể cái đã. Bởi người ta có kiến thức, nó khác hơn Việt Nam  mình. Tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng có nhiều người đi học Thiền không có đủ  kiến thức khoa học về bộ não.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong một cuốn sách, chúng tôi có viết rằng, sau này nếu được,  trong một trường trung học tại Việt Nam, ở lớp 10 nên cho học trò học Thiền để  có khái niệm, thì thực hành dễ hơn. Lớp 10 thì có kiến thức (…).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Thưa Thiền sư, vừa rồi Thiền sư có nói đến buổi  giảng tại Poitiers, trong vòng có hai ngày, người ta đã có thể có ý thức về  chuyện đó rồi?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Người ta làm được, chứ không  phải có ý thức. Người ta làm được liền.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Cụ thể là làm được gì?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Thí dụ chúng tôi dạy họ  phương pháp thở, chỉ ở bước 1, bước 2 thôi. Những ý nghĩ trong đầu họ dừng hết  tất cả. Chúng tôi hỏi, các vị có nói thầm trong đầu không? Trả lời không có. Từ  đó chúng tôi hướng dẫn họ thêm nữa. Chỉ có hai ngày thôi, chúng tôi hướng dẫn họ  về lý thuyết và thực hành, họ làm được, khỏe khoắn, vui vẻ, điều chỉnh được bệnh  tâm thể của họ. Thí dụ như, bệnh huyết áp, tim mạch rối loạn.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Các bệnh cao huyết áp, cao máu mỡ và rối loạn nhịp  tim&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Thưa Thiền sư, có những bệnh gì, mà trong quá  trình Thiền sư giảng dạy, và hướng dẫn những người thực hành theo để có thể chữa  được bệnh đó một cách nhanh chóng và hiệu quả?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Bệnh tim mạch, thí dụ như  cao máu (cao huyết áp), cao máu mỡ, rối loạn nhịp tim, là nhanh chóng có hiệu  quả liền tức khắc. Khi hướng dẫn Thiền, chúng tôi cho họ ghi lên bệnh của mình,  nhưng không ghi tên của họ. Khi hết xong đưa cho chúng tôi, chúng tôi xếp loại.  Ví dụ như có người bị mất ngủ kinh niên. Tôi mới giải thích, mất ngủ kinh niên  là do trung tâm “&lt;i&gt;giữ giờ&lt;/i&gt;” trong não bộ nó bị rối loạn. Ví dụ như chúng  tôi hướng dẫn một cô nhìn bóng đen để điều chỉnh trung tâm giữ giờ đó. Khi nhìn  bóng đen, cái đường con mắt đi vô nó đi ngang qua hạch nhân điều chỉnh việc ngủ  thức của mình (tuyến tùng có hai tên gọi là "&lt;i&gt;épiphyse&lt;/i&gt;" hay "&lt;i&gt;glande  pinéale&lt;/i&gt;"). Hạch nhân đó tiết ra chất melatonin.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Khi nghe Thiền sư mô tả quá trình chữa bệnh như  vậy, nghe Thiền sư giống như một bác sĩ tâm lý. Có câu hỏi đặt ra là, giữa  phương pháp Thiền theo đạo Phật và phương pháp chữa bệnh tâm lý rất hiện đại như  vậy có gì liên hệ với nhau cụ thể là trong trường hợp kể trên?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Phật dạy phương pháp nhìn  ánh sáng. Ánh sáng này có thể là đèn hay nắng. Đường đi ánh sáng vô đâu? Nhìn  ánh sáng nắng thì nó vô mắt mình vào võng mạc (rétine), đi theo các đường chéo  như hình như cái nón đó, rồi chạy lên đụng tuyến tùng. Tuyến tùng nó mới tiết ra  serotonin, hay là melatonin nữa. Từ chất đó mà nó điều chỉnh bệnh mất ngủ hay  bệnh trầm cảm. Như vậy, chúng tôi kết hợp với khoa học để đối chiếu lại. À, Phật  dạy trong kinh đó, bây giờ hỏi vì sao nó điều chỉnh được? Đó là nhờ những chất  mà chúng tôi gọi là các “&lt;i&gt;nước sinh hóa học&lt;/i&gt;”.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI:&lt;/b&gt; &lt;i&gt;Thiền sư có thể nói về những cái bệnh mà Thiền  sư nói là Thiền chữa rất là tốt, ví dụ như các bệnh về mỡ máu, hay bệnh tim  mạch, … cụ thể như thế nào?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Phật dạy mình cách thở. Khi  thở vô, mũi mình có hai cái que (tức là bộ phận "&lt;i&gt;bulbes olfactifs&lt;/i&gt;" hay  hành khứu giác). (Thở vô) hai cái que đụng thẳng vô khu dưới đồi của mình, là  Hypothalamus. Mà Hypothalamus là trung tâm tâm lý, tình cảm của mình đó. Rối  loạn cũng nó, mà an ổn cũng nó, mà thánh thiện cũng nó luôn. Bằng hít thở vô nó  đụng vào hai que đó liền, bằng tín hiệu nó đụng vào vùng dưới đồi liền. Đụng vô  dưới đồi làm yên lặng nội tâm. Kế bên dưới đồi có trung tâm sợ hãi và điều khiển  xúc cảm của mình nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Cái vùng này tên khoa học là gì?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Amygdala. Nếu tập thở vô như  vậy, nó đụng vào thần kinh đối giao cảm. Ở tận cùng của đầu dây thần kinh đối  giao cảm thì tiết ra chất acetylcholine. Mà chính cái acetylcholine có vai trò  điều khiển tim mạch. Một mặt nữa là thần kinh đối giao cảm khi trở về đụng vào  thần kinh sọ não, thì nó đụng vào một hệ thần kinh khác, gọi là thần kinh phế  vị, mà phế vị liên hệ đến phổi với nội tạng, hay là cả gan nữa. Nhờ thế mà nó  điều chỉnh lại. Thành ra mình hít thở là mình tác động cùng một lúc vào ba hệ  thống, đó là hệ thần kinh đối giao cảm, hệ thần kinh phế vị, và cái thứ ba thông  qua hệ thần kinh đối giao cảm mà nó đụng được vào acetylcholine. Acetylcholine  có ở nhiều nơi lắm. Từ cuống não cũng có, từ Dưới đồi cũng có, từ vùng thân thọ  ở hai bên &lt;i&gt;não bầu &lt;/i&gt;cũng có nữa. (…) Nhờ như thế mình mới ngừa được sốc  ("&lt;i&gt;strok&lt;/i&gt;", tức tai biến mạch máu não), điều chỉnh được tim mạch, máu mỡ.  Lý do là acetylcholine khắc chế hai chất, đó là các chất (có thể) làm mình bị  máu mỡ, là norepinephrine với epinephrine (hay còn gọi là noradrenaline và  adrenaline).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Thiền sư nói như thế nghe như nếu ai đó có ý  muốn thực hành phương pháp thiền này thì dường như có khả năng chữa được tất cả  mọi bệnh. Nghe có vẻ như trong tầm tay mà không cần phải đi bệnh viện, không cần  đến hiệu thuốc?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Đúng vậy, nhưng không phải  nó chữa được tất cả mọi bệnh đâu. Bệnh nào ra bệnh đó. Ví dụ như bệnh cần có  acetylcholine, thì thở theo lối để làm acetylcholine.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ngày nay, từ rối loạn não bộ nó dẫn đến nhiều bệnh khác. Ví dụ  như bệnh trầm cảm, bệnh mất ký ức. Kể cả bệnh tiểu đường cũng do não bộ rối  loạn. Vấn đề thiền là để làm gì? Là để điều chỉnh hệ thống hoạt động của não bộ.  Từ đó chúng tôi đưa ra phương pháp gọi là sự tương tác giữa Tâm – Pháp – Não Bộ  đối với Thân Tâm và Trí tuệ Tâm linh của con người.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Hiểu biết về cơ chế của bộ não giúp người tập Thiền tránh  được các sai lầm&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Vừa rồi Thiền sư giải thích với các thính giả  không biết gì về đạo Phật cả. Đối với những người đã đi xa hơn rồi, bắt đầu bước  vào, họ muốn đi cao hơn nhưng họ còn lúng túng giữa các pháp môn khác nhau. Vậy  Thiền sư có thể nói để riêng với những người đó được không?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Thực sự cái thiền nó khó,  nhưng cũng không khó. Khó là như thế này: khó là vì người thực hành không gặp  một người đã kinh nghiệm thiền để hướng dẫn mình. (Nhiều người không có kinh  nghiệm) hướng dẫn theo sở ý của họ. Nếu theo như vậy, có thể mắc bệnh tâm thể.  Đấy là điều khó. Còn dễ là nếu biết được chức năng của hai vùng não thì mình làm  được hết. Mình cô lập vùng phía trước hay là đi vô vùng phía sau. Nhưng nhận ra  chức năng của mỗi vùng là làm được. Muốn nhận ra được chức năng của mỗi vùng,  phải có người có hiểu biết về não bộ. Ngày nay, có người biết về não bộ (là các  nhà khoa học), nhưng họ không “&lt;i&gt;thực hành”&lt;/i&gt; được. (…)&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: Tức là họ không phải là người sử dụng các hiểu biết  tâm linh để tác động vào các vùng mà họ biết về mặt giải phẫu và mặt nghiên cứu,  đúng không?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Lấy thí dụ như trong não bộ  có một vùng rất hay gọi là vùng Wernicke (Vùng ngôn ngữ: hiểu, đọc, viết và ký  ức ngôn ngữ).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Nó nằm ở đâu?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Nằm ở vùng Dưới não, khoa  học gọi là vùng Ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng các nhà khoa học đâu có biết cách  “&lt;i&gt;thực hành&lt;/i&gt;” được vùng đó. Điều đó khó. Còn mình, “&lt;i&gt;người thực hành&lt;/i&gt;”  thì biết, thực hành được, nhưng không biết chỗ nào để mà chỉ. Thành ra hai cái  đó khác nhau.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI:&lt;/b&gt; &lt;i&gt;Khi mình biết cách sử dụng khu vực này, thì có ý  nghĩa gì?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Mình biết để đi cho lẹ, thay  vì đi lòng vòng. Đi vùng khác thì cũng được nhưng lâu hơn. Vì sao, vì vùng này  liên hệ đến vùng giữa não của mình nữa (vùng Gian não). Điều quan trọng nhất là  làm sao điều khiển được &lt;i&gt;cuống dưới đồi&lt;/i&gt;.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Tức là vùng Wernicke điều khiển được vùng Dưới  đồi?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Không, nó không điều khiển  mà tác động vào thẳng.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI&lt;/b&gt;: &lt;i&gt;Như vậy, những điều Thiền sư nói có phải liên  quan đến một hệ thống mà Thiền sư nói trong nghiên cứu của Thiền sư với các nhà  khoa học ở Đức, về hệ thống Viền não? Phải chăng Thiền sư muốn nhấn mạnh đến tầm  quan trọng của nó trong quá trình tu tập thiền?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Đúng vậy, trong tu thiền, hệ  thống Viền não rất quan trọng. Là vì toàn bộ “&lt;i&gt;tâm&lt;/i&gt;” của con người nằm  trong này.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI:&lt;/b&gt; &lt;i&gt;Bình thường, mình gọi là “tâm” hay “tinh thần”,  nếu mà không biết thì không hiểu nó nằm chỗ nào trong cơ thể, nhưng nếu theo  Thiền sư và các nhà khoa học cộng tác, sau khi nghiên cứu, có thể chỉ ra vị trí  của nó?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt&lt;/b&gt;: Đúng rồi. Nếu không biết  chức năng của các bộ phận trong não bộ của mình, mà cứ thực hành thì một ngày  nào đó sẽ bị bệnh tâm thể.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;RFI:&lt;/b&gt; &lt;i&gt;Thiền sư có thể cho một ví dụ để những người  đang tập, hay quan tâm đến chuyện này có thể dễ hiểu. Tức là, khi tập thiền sai  lạc thì bị mắc những bệnh gì?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thiền sư Thích Thông Triệt:&lt;/b&gt; Người ta gọi là “&lt;i&gt;tẩu hỏa  nhập ma&lt;/i&gt;” đó. Thứ nhất là mắc bệnh cao máu, cao máu mỡ, tiểu đường, đó là ba  thứ bệnh thông thường nhất mà mình dễ gặp. Rồi lần lần nó lên nữa là bệnh trầm  cảm, bệnh mất ký ức.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Do mình thực hành sai lạc. Mình thực hành miên mật, nhưng sai  lạc. Thay vì đừng tập trung tư tưởng vào đối tượng, thì mình cứ tập trung. Bên  não phải mình sử dụng này, tập trung như vậy là mình tác động vào hệ giao cảm  thần kinh. Mà đầu dây của các dây thần kinh giao cảm có tiết ra một chất hóa học  là norepinephrine (còn gọi là noradrenaline). Khi chất này được tiết ra rồi thì  nó đi theo máu, vô tuyến thượng thận, bắt đầu đến phần ruột thượng thận (phần  giữa của tuyến thượng thận/glande médullosurrénale), thì nó tiết ra epinephrine  (adrenaline). Nếu hai chất này bị tiết ra mãi mãi, thì một là tim mạch bị rối  loạn, đường máu cao, và cuối cùng mất ký ức luôn. Do epinephrine trong tuyến  thượng thận nó tiết hoài thì tác động vào vỏ thượng thận thì ra cortisol. Mà  cortisol ra hoài thì mất ký ức (trí nhớ). Vì chất này theo máu lên não bó chặt  tế bào não vùng ký ức khiến chúng chết. Sự tương tác này chúng tôi gọi là tương  tác dây chuyền Tâm – Pháp – Não Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ tâm linh của con  người là như thế.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Điều cơ bản là acetylcholine được tiết ra thì norepinephrine bị  dẹp. (…) Khi mình yên lặng được thì hệ đối giao cảm hoạt động, các đầu dây của  hệ này sẽ tiết ra acetylcholine (…) giúp cho chúng ta được cân bằng và hài hòa.  Cái thuật ngữ của Thiền gọi là hài hòa, chính là mình hài hòa được các chất sinh  hóa học trong não bộ của mình.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Nguồn: &lt;/b&gt;&lt;a href="http://www.viet.rfi.fr/cong-dong/20110608-nhung-loi-ich-cua-tap-thien-duoi-anh-sang-cua-khoa-hoc-ve-bo-nao"&gt;Viet.rfi.fr&lt;/a&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-1609787382798090507?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/1609787382798090507/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=1609787382798090507' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1609787382798090507'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1609787382798090507'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/06/nhung-loi-ich-cua-tap-thien-duoi-anh.html' title='Những lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-8153628854302230007</id><published>2011-05-23T10:11:00.000+07:00</published><updated>2011-05-23T10:11:36.584+07:00</updated><title type='text'>Nỗi lo mang tên nhập siêu và đầu tư công</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;(TBKTSG) - Khi còn làm trong một doanh nghiệp nhà nước ngành  dệt may cách đây sáu năm, có dịp tiếp xúc với những nhà nhập khẩu nước ngoài,  tôi mới biết rằng so với Trung Quốc thì hàng may mặc của Việt Nam chỉ có một lợi  thế duy nhất, đó là chất lượng cao hơn.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Lợi thế của hàng xuất khẩu ở đâu?&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhà nhập khẩu tìm đến Việt Nam chính vì người công nhân Việt  Nam thật sự khéo léo, dù họ biết rằng đặt hàng ở đất nước này là chấp nhận đối  mặt với những vấn đề nan giải, đó là luôn giao hàng trễ, điều kiện thanh toán  khó khăn (hầu hết đều yêu cầu đặt cọc trước khi sản xuất, thanh toán đủ trước  khi xuất hàng), giá cả khó cạnh tranh, thủ tục hải quan phiền hà…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Mới đây gặp lại trưởng phòng cũ, anh nói rằng điều kiện thanh  toán vẫn vậy, giá cả cũng thế (vì nhập khẩu gần hết nguyên phụ liệu gồm sợi, hóa  chất, chỉ, nút, nhãn… từ Trung Quốc rồi), còn giao hàng thì không thay đổi được.  Anh giải thích việc giao hàng trễ rằng, khi khách hàng đến tiếp xúc đặt vấn đề,  công ty sẽ triệu tập cuộc họp gồm lãnh đạo của tất cả các công đoạn. Phòng nhập  khẩu sợi cho rằng họ cần 30 ngày để hàng về đến kho, phân xưởng dệt cần một  tuần, nhuộm cần 10 ngày, may cần 30 ngày…Tổng hợp ý kiến từ các đơn vị là đơn  hàng cần khoảng thời gian 80-90 ngày để hoàn thành. Trong khi đó, khách hàng yêu  cầu giao hàng trong vòng hai tháng. Đàm phán rơi vào bế tắc.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Mấy ngày sau, khách hàng quay lại đặt hàng vì không tìm được  chỗ nào thực hiện đơn hàng nhanh hơn. Phòng kinh doanh nhận đơn hàng và triển  khai xuống các đơn vị. Ngay trong ngày, phòng nhận được liên tiếp ý kiến từ các  đơn vị và phân xưởng. Phòng nhập khẩu thông báo rằng lô sợi hỏi giá hôm trước,  nay vì ngưng một tuần nên họ bán rồi, giờ đặt hàng phải chờ lô sản phẩm mới, dệt  cho rằng nếu sợi nhập trễ như vậy thì máy móc của họ bỏ lâu sẽ phải tiến hành vệ  sinh lại, chạy thử thì thời gian dệt sẽ lên thành 10 ngày thay vì bảy ngày như  trước, xưởng may thì cho rằng dạo này công nhân nghỉ thai sản nhiều quá do năm  này là năm heo vàng, mèo vàng… Vậy là quá trình đàm phán để lùi ngày giao hàng  phải tiến hành từ lúc đơn hàng mới bắt đầu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tổng cục Hải quan thống kê giá trị xuất khẩu hàng dệt may trong  tháng 3-2011 là 1,09 tỉ đô la Mỹ, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong quí 1-2011  lên 2,88 tỉ, tăng 31,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy vậy, không có con số thống  kê cho biết trong tổng kim ngạch xuất khẩu này, bao nhiêu là hàng gia công, bao  nhiêu là hàng mang nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam, bao nhiêu là hàng của  Việt Nam nhưng mang các nhãn hiệu nổi tiếng của nước ngoài...Tuy vậy, có thể  khẳng định rằng loại thứ nhất và thứ ba là chủ yếu bởi có mấy doanh nghiệp Việt  Nam có thể tự xuất được hàng của mình ra nước ngoài?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Xúc tiến xuất khẩu bằng cách nào?&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ngày đó, là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc tập đoàn Dệt  may nên hầu hết các đoàn công tác của tập đoàn ra nước ngoài đều có đủ lãnh đạo  của các doanh nghiệp thành viên. Tổng giám đốc đi công tác mà công ty băn khoăn  vì sếp không biết ngoại ngữ, đi một mình theo đoàn thì tiếp thị bằng cách nào.  Công ty cũng chưa có đối tác nào ở thị trường đó thì sếp có thể gặp ai, trao đổi  với ai?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ngày trở về, tổng giám đốc “quăng” cho phòng kinh doanh một cái  hợp đồng, khách hàng mua của công ty số lượng hàng trị giá gần một triệu đô la  Mỹ. Cả công ty tròn mắt ngạc nhiên, thán phục. Chỉ có trưởng phòng là hiểu, lẳng  lặng bỏ cái hợp đồng vào tủ, khóa lại. Hỏi anh sao không xúc tiến, triển khai  một đơn hàng lớn như vậy. Anh bảo rằng mỗi năm anh vẫn nhận được vài cái hợp  đồng như vậy, vì mỗi năm sếp đi nước ngoài vài lần. Khách hàng không biết là ai  mà mạnh tay thế, chưa biết công ty mình ra sao, hàng hóa thế nào… mà đã đặt hàng  cả triệu đô?! Mà thật lạ, sau đó cũng không hề nghe tổng giám đốc hỏi thăm về  cái hợp đồng “khủng” mà chính sếp đã giao.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Lợi thế cạnh tranh là vậy, lãnh đạo doanh nghiệp là vậy, lo cho  nhập siêu thì biết lo đến bao giờ?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Thái độ ngược chiều với cắt giảm đầu tư công&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trên thế giới, việc cắt giảm đầu công tư luôn được các chính  phủ cân nhắc hết sức cẩn thận. Mặc dù vậy, khi được ban hành, gần như chúng đều  vấp phải sự phản đối của công chúng. Chỉ riêng ở Việt Nam, mỗi khi Chính phủ  công bố cắt giảm chi tiêu công, toàn dân lại hồ hởi và đồng thuận cao.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tháng 4-2011, người dân Ukraina xuống đường biểu tình vì chính  phủ tuyên bố sẽ cắt giảm ngân sách do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế,  tài chính toàn cầu. Tháng 3-2011, người dân Bồ Đào Nha biểu tình phản đối những  biện pháp “thắt lưng buộc bụng” của chính phủ nước này. Cũng vào cuối tháng này  hàng ngàn người ở thủ đô London đã biểu tình để phản đối những biện pháp cắt  giảm chi tiêu của Chính phủ Anh. Trước đó, năm 2010, người dân các quốc gia như  Tây Ban Nha, Đan Mạch cũng xuống đường, hô vang các khẩu hiệu đòi chính phủ tăng  ngân sách, phản đối chính sách cắt giảm chi tiêu công vì cho rằng việc cắt giảm  này ảnh hưởng đến việc làm và đời sống của họ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ở các nước này, nền kinh tế đã phát triển cao, nhiều nước có  thu nhập bình quân đầu người vào loại cao nhất thế giới. Cơ sở hạ tầng và đời  sống người dân ở mức mà chúng ta mơ ước. Vậy mà người dân vẫn biểu tình để đòi  quyền lợi. Việc biểu tình có vẻ như họ khá “ích kỷ”, không chia sẻ với những nỗi  lo của chính phủ vốn vẫn đang khó khăn vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, thậm  chí nhiều chính phủ đang ở bên bờ vực phá sản?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ở Việt Nam, một đất nước mới thoát khỏi tình trạng của một nước  nghèo, tuy vậy sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn dẫn đến tình trạng có người ăn  sáng tô phở nấu bằng bò Kobe giá 750.000 đồng nhưng có người thu nhập chưa đến  10.000 đồng/ngày. Hạ tầng đô thị ở mức yếu kém, cắt điện luân phiên, kẹt xe mỗi  ngày ở các đô thị lớn, bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải… Vì vậy, đầu tư  công càng nhiều sẽ càng giúp Việt Nam cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo ra nhiều công  ăn việc làm, nâng cao phúc lợi và đời sống cho người dân, giúp người dân có điều  kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiên tiến. Vậy tại sao người dân lại  khuyến khích cắt giảm ngân sách? Việc hồ hởi khi cắt giảm đầu tư công không hẳn  vì chia sẻ với khó khăn của Chính phủ, thái độ đối với đầu tư công ngược chiều  giữa Việt Nam và các nước chỉ có thể được giải thích bởi hai chữ niềm tin.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Dân chúng các nước tin vào hiệu quả của đầu tư công, tin rằng  những đồng tiền từ ngân sách luôn được tiêu xài hợp lý, đúng nơi, đúng chỗ nên  việc cắt giảm ngân sách sẽ bớt đi những công trình hữu ích, việc làm của họ sẽ  bị ảnh hưởng, phúc lợi sẽ bị thu hẹp. Còn ở Việt Nam, người dân tin rằng bớt đầu  tư công là bớt đi lãng phí, bớt đi tham nhũng, bớt đi những hoạt động vô bổ, bớt  đi những công trình vô ích và bớt đi những kỷ lục vô nghĩa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiệu quả đầu tư công quá thấp, các công trình có vốn đầu tư từ  ngân sách kéo dài do chậm tiến độ nhiều năm, những công trình đồ sộ vừa xây xong  đã hư hỏng nặng, những công trình bị rút ruột đến vài ba chục phần trăm, những  công trình chạy đua kỷ niệm ngày này, ngày kia rồi khánh thành xong thì đóng cửa  hoặc hoạt động cầm chừng… Tiêu biểu cho những kiểu đầu tư này là quốc lộ 91B qua  Cần Thơ, cầu Thăng Long, đường Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hà Nội… Hay kể từ ngày có  vụ Vinashin, doanh nghiệp này trở thành một ví dụ điển hình cho việc tiêu xài  hoang phí những đồng tiền ky cóp để đóng thuế của nhân dân.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="right"&gt; &lt;table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width: 153px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="16"&gt; &lt;/td&gt; &lt;td style="background: #eeeeee;" width="135"&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;Còn ở Việt Nam, người dân tin rằng bớt đầu tư công là bớt đi  lãng phí, bớt đi tham nhũng, bớt đi những hoạt động vô bổ, bớt đi những công  trình vô ích và bớt đi những kỷ lục vô  nghĩa.&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Kể từ khi Nghị quyết 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát ra  đời, cả xã hội dồn sự chú ý về chính sách tài khóa để mong chi tiêu công cắt  giảm càng nhiều… càng tốt! Con số công bố ban đầu 3.400 tỉ đồng được cho là quá  ít thì mấy ngày gần đây, con số cắt giảm có thể lên đến 97.000 tỉ đồng lại sinh  nghi ngờ. Con số này có thể chưa dừng lại, nhưng giả sử không cắt giảm, rõ ràng  chúng ta đã lãng phí không ít tài sản của Nhà nước, của nhân dân. Vì vậy, có ý  kiến còn đề xuất mỗi năm phải rà soát và cắt giảm chứ không phải chỉ làm mỗi năm  nay bởi “lãng phí, tham nhũng, rút ruột còn… nhiều lắm”!?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhập siêu và đầu tư công lãng phí đúng là những nỗi lo. Lo vì  một ngành công nghiệp phụ trợ èo uột để đến nỗi một doanh nghiệp nước ngoài phải  than rằng họ đi hết 20 doanh nghiệp Việt Nam mà không mua nổi một cái ốc vít. Lo  vì mỗi năm tiền đồng lại mất giá thêm vài phần trăm mà 20 năm qua Việt Nam vẫn  liên tục nhập siêu. Lo vì mỗi năm lại có thêm nhiều công trình to nhất, dài  nhất, cao nhất nhưng chất lượng thì đáng nghi ngờ nhất.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tuy vậy, đó không phải là những nỗi lo duy nhất, Thanh Hóa hơn  240.000 nhân khẩu đang thiếu đói, đất đai dành cho nông nghiệp ngày càng teo tóp  bởi khu công nghiệp, khu đô thị và sân golf. Mùa mưa với bình quân hơn 10 cơn  bão mỗi năm và hàng trăm người chết, hàng trăm tàu thuyền bị chìm đang đến gần  với dải đất miền Trung. Người dân Tây Nguyên mùa lũ phải đu dây qua sông, miền  Tây mùa nước nổi mà cầu khỉ vẫn còn…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Không chỉ có nhập siêu và đầu tư công, nỗi lo còn nhiều lắm!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Nguồn:&lt;/b&gt; &lt;a href="http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/53818/Noi-lo-mang-ten-nhap-sieu-va-dau-tu-cong.html"&gt;Thesaigontimes.vn&lt;/a&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-8153628854302230007?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/8153628854302230007/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=8153628854302230007' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/8153628854302230007'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/8153628854302230007'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/05/noi-lo-mang-ten-nhap-sieu-va-au-tu-cong.html' title='Nỗi lo mang tên nhập siêu và đầu tư công'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-5078075131148171750</id><published>2011-05-14T14:04:00.000+07:00</published><updated>2011-05-14T14:04:23.775+07:00</updated><title type='text'>Để giải quyết vấn đề nhập siêu</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;Nút thắt của nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô hiện nay là chuyện nhập  siêu, sau bốn tháng đầu năm đã lên đến gần 5 tỉ đô la, trong đó nhập siêu với  Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn nhất.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiện nay tỷ giá đang khuyến khích cho nhập siêu. Mặc dù nhân  dân tệ đang tăng giá so với đô la Mỹ, nhà nhập khẩu vẫn hưởng lợi lớn khi hàng  nhập về bán bằng tiền đồng sẽ có giá tăng (do lạm phát tiền đồng) nhưng tỷ giá  lại được giữ “ổn định”.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tình hình này khuyến khích mọi người nhập khẩu thay vì sản xuất  hàng để bán trong nước. Chuyện nhập khẩu chèn lấn hàng sản xuất trong nước đang  diễn ra ở khắp mọi ngành nghề chứ không chỉ là nhập máy móc, nguyên vật liệu.  Các ý kiến sẽ tập trung làm rõ vấn đề nhập siêu và giải pháp để hạn chế.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Đồng tiền Việt Nam phá giá liên tục nhưng nhập siêu vẫn lớn và  tiếp tục tăng. Thông thường đồng tiền mất giá có tác dụng làm tăng xuất khẩu và  giảm nhập khẩu nhưng ở Việt Nam thì không thấy hiệu quả đó, ngược lại nhập khẩu  vẫn tăng. Theo tôi, có hai nguyên nhân chính: một là sức cạnh tranh quá kém của  hàng hóa sản xuất ở Việt Nam, hai là chính sách và quản lý nhập khẩu không hiệu  quả. Bao trùm lên hai nguyên nhân này là sự thiếu vắng tinh thần trách nhiệm và  năng lực quản lý của quan chức các cấp.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại Việt  Nam&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Năng lực cạnh tranh của Việt Nam quá yếu trong cả hàng công  nghiệp và nông phẩm chất lượng cao. Điều này phản ảnh trong cơ cấu xuất và nhập  khẩu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam gồm phần lớn sản phẩm nguyên liệu  thô hoặc sơ chế và hàng công nghiệp chủ yếu dùng lao động giản đơn. Cơ cấu đó  không thay đổi trong thời gian dài. Năm 2003, trong tổng kim ngạch xuất khẩu,  nông phẩm chiếm 25%, nhiên liệu (chủ yếu là dầu thô) 21%, vải và may mặc 20%. Ba  nhóm hàng này chiếm tới 66% tổng xuất khẩu năm 2003 và đến nay vẫn không thay  đổi bao nhiêu (năm 2008 tỷ lệ đó vẫn còn tới 63%). Các loại máy móc (gồm cả linh  kiện, phụ tùng) là hàng công nghiệp chủ đạo trong mậu dịch tại vùng Đông Á,  nhưng những mặt hàng này còn chiếm một tỷ trọng quá nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu  của Việt Nam (9% năm 2003 và 11% năm 2008).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Mặt khác, nhập khẩu tăng nhanh gây ra nhập siêu lớn vì các  ngành công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, hàm lượng nhập khẩu của hàng sản xuất  cho xuất khẩu và cho tiêu dùng trong nước rất lớn. Đầu tư của doanh nghiệp nhà  nước hiệu quả thấp, hoạt động của doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn nên không  cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Đặc biệt áp lực của hàng công nghiệp nhập  khẩu từ Trung Quốc rất mạnh. Tại Đông Á, Trung Quốc triển khai ngoại thương hàng  ngang với các nước khác (cùng xuất và nhập hàng công nghiệp) trong khi với Việt  Nam thì cơ cấu hàng dọc vẫn chưa thấy có chiều hướng thay đổi.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tại sao công nghiệp Việt Nam không hội nhập được vào chuỗi giá  trị toàn cầu, nhất là tại vùng Đông Á? Chúng ta đã bàn quá nhiều trong nhiều năm  qua, ở đây không nhắc lại nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Về nông phẩm, nhu cầu về thực phẩm an toàn vệ sinh, chất lượng  cao đang tăng nhanh trên thị trường Đông Á. Nếu biết tổ chức và có chính sách  phát triển thích hợp, Việt Nam hoàn toàn có khả năng xuất khẩu. Nhưng tiềm năng  đó chưa thành hiện thực. Thậm chí chỉ cần chọn lựa sản phẩm, sắp xếp theo kích  cỡ, bao bì đẹp mắt, bảo quản tốt là xuất khẩu được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Năm ngoái tôi đến sân bay Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây, vừa  ra khỏi khu vực lấy hành lý, thấy các cửa hàng chung quanh lối đi bày đầy hàng  hoa quả như xoài, mận, chuối... xem thử thì thấy toàn là hàng nhập từ Thái Lan.  Đọc báo đã biết Thái Lan triển khai ngay chính sách chớp thời cơ do Quy định đặc  biệt Thu hoạch sớm (Early Harvest) của Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc  ASEAN trong đó Trung Quốc thực hiện trước việc tự do hóa nhập khẩu nông phẩm từ  các nước ASEAN, bây giờ thấy rõ nỗ lực của Thái Lan đã đưa lại kết quả cụ  thể.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Việt Nam cũng được hưởng quy chế này và trong nước cũng dư thừa  các loại hoa quả đó, tại sao không xuất khẩu được sang Trung Quốc, mặc dù Việt  Nam có lợi thế về địa lý hơn Thái Lan?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một nghịch lý nữa là ngay tại thị trường trong nước, Việt Nam  nhập cả chuối và nhiều loại rau quả khác từ Thái Lan, Philippines để bán tại các  siêu thị, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng có thu nhập cao. Tại sao Việt Nam  không cạnh tranh được trong cả các mặt hàng này ngay tại thị trường trong  nước?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Buông lỏng quản lý nhập khẩu&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong lúc nhập siêu tăng đến mức làm bất ổn trầm trọng nền kinh  tế mà nhập khẩu hàng tiêu dùng cao cấp vẫn tăng. Như báo chí phản ảnh, “lượng ô  tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng đột biến trong bốn tháng đầu năm 2011”, “các siêu  thị tràn ngập sữa, thịt, rượu bia, thuốc lá có nguồn gốc nhập khẩu”... Hiện  tượng này thật khó hiểu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Dù là thành viên của WTO, một nước đang trong tình trạng nhập  siêu lớn, kinh tế đang gặp nguy cơ vẫn có thể áp dụng điều khoản tự vệ để hạn  chế nhập khẩu một số mặt hàng nhất định trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra,  Chính phủ có thể đánh thêm thuế tiêu thụ đặc biệt (cao đủ để hạn chế được nhập  khẩu) đối với các mặt hàng tiêu thụ cao cấp nói trên.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Trách nhiệm và năng lực của quan chức&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đây là vấn đề lớn không thể bàn hết ở đây nhưng có thể nói đó  là những nguyên nhân sâu xa làm cho Việt Nam không sản xuất được hàng có sức  cạnh tranh và làm cho nhập khẩu hàng xa xỉ tiếp tục tăng.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hàng nông phẩm thì như đã thấy, không đòi hỏi công nghệ cao cấp  và vốn lớn vẫn có thể cạnh tranh được trên thị trường trong nước và nước ngoài  nếu có sự quan tâm, yểm trợ của chính quyền địa phương. Muốn sản xuất lớn và cao  cấp hóa nông phẩm và thực phẩm thì cần đến nỗ lực của chính quyền trung ương và  địa phương hơn nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhà nước cần đầu tư hạ tầng nông thôn (xây cơ sở tập trung nông  phẩm, cơ sở bảo quản tồn kho, trung tâm giao dịch...), tổ chức kiểm tra nông  dược tồn đọng trên sản phẩm thu hoạch, quản lý công nghệ và tình trạng vệ sinh  an toàn thực phẩm, tổ chức hướng dẫn nông dân hoạt động sản xuất... Ngoài ra,  Chính phủ còn có vai trò tìm kiếm thị trường và tổ chức cho nông dân tiếp cận  thị trường, hướng dẫn nông dân lập các khế ước dài hạn với các công ty thương  mại quốc tế.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Về công nghiệp, nếu lãnh đạo quan tâm thực sự đến nhập siêu và  năng lực cạnh tranh của Việt Nam thì đã đưa ra các biện pháp thu hút các dự án  FDI trực tiếp tăng năng lực cạnh tranh, và yểm trợ hoạt động của doanh nghiệp  trong nước (nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vốn đầu tư và ít thông tin về  thị trường), và nhất là không ưu tiên vốn cho các tập đoàn đầu tư vào những lĩnh  vực không hoặc ít liên quan đến hiệu quả tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh  tế.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tin tức thời sự không cho thấy các nỗ lực nói trên, ngược lại  thấy những tin như Bộ Tài chính vừa đưa ra dự thảo nâng mức giá trị xe con cho  cấp bộ trưởng và thứ trưởng (theo báo &lt;i&gt;Sài Gòn Tiếp Thị&lt;/i&gt;) (mở thêm dấu  ngoặc: ở Việt Nam số người có cấp bậc tương đương bộ trưởng và thứ trưởng quá  nhiều!). Trong lúc dân chúng đang khốn khổ vì cơn bão giá này, tại sao Bộ Tài  chính lại có dự thảo này? Thái độ này mâu thuẫn với quyết định hạn chế nhập khẩu  hàng xa xỉ và do đó quyết định, chính sách đó sẽ không thể có hiệu lực.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;T. V. T.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Nguồn:&lt;/b&gt; &lt;a href="http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/53296/De-giai-quyet-van-de-nhap-sieu.html"&gt;Thesaigontimes.vn&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-5078075131148171750?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/5078075131148171750/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=5078075131148171750' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5078075131148171750'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5078075131148171750'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/05/e-giai-quyet-van-e-nhap-sieu.html' title='Để giải quyết vấn đề nhập siêu'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-7997119209699288222</id><published>2011-04-13T11:22:00.000+07:00</published><updated>2011-04-13T11:22:03.510+07:00</updated><title type='text'>Việt Nam: khủng hoảng vì hồ hởi</title><content type='html'>&lt;h3 class="post-title entry-title"&gt;&lt;a href="http://boxitvn.blogspot.com/2011/04/viet-nam-khung-hoang-vi-ho-hoi.html"&gt;&lt;/a&gt; &lt;/h3&gt;&lt;div class="post-body entry-content"&gt; &lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng và Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong ba tháng đầu năm nay, Việt Nam như bị chấn động bởi hàng  loạt vấn đề dồn dập: &lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt; &lt;table align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width: 282px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="261"&gt;&lt;a href="http://lh5.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOwwYiME7I/AAAAAAAAKu0/nVFX6_L0X6M/s1600-h/clip_image002%5B3%5D.jpg"&gt;&lt;img alt="clip_image002" border="0" height="136" src="http://lh6.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOwzSo5XuI/AAAAAAAAKvQ/c017DlENnKQ/clip_image002_thumb.jpg?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: block; float: none; margin: 0px auto; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="clip_image002" width="240" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="19"&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td valign="top" width="261"&gt; &lt;div align="justify"&gt;Tỷ lệ lạm phát tại Việt Nam từ tháng 12-2010 đến tháng 3-2011.  &lt;i&gt;RFA&lt;/i&gt; PHOTO&lt;/div&gt;&lt;/td&gt; &lt;td valign="top" width="19"&gt; &lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Lạm phát lại hoành hành như ba năm về trước trong khi khiếm hụt  cán cân thương mại bào mỏng số dự trữ ngoại tệ và cách đối phó của chính quyền  gây phản ứng hốt hoảng trên thị trường vàng và đô la. Mới chỉ bốn năm trước  thôi, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Việt Nam đã là nguồn kỳ vọng  cho giới đầu tư nước ngoài. Ngày nay, xứ này đang là quốc gia có vấn đề. Vì sao  lại như vậy? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả qua cuộc trao đổi  sau đây do Vũ Hoàng thực hiện với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vượt tầm kiểm soát?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng: &lt;i&gt;Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, Chính quyền  Việt Nam lại vừa ban hành một số biện pháp kinh tế mới như tăng lãi suất tái tài  trợ, nâng mức lương tối thiểu, giảm giá đồng bạc. Những biện pháp trên nối tiếp  hàng loạt quyết định nhằm ổn định tình hình vật giá đã như bung ra khỏi khả năng  kiểm soát của chính quyền. Kỳ này, Diễn đàn Kinh tế xin đề nghị ông phân tích  cho nguyên nhân của tình trạng bất thường này sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức  Thương mại Thế giới năm 2007 và vượt qua được nạn Tổng suy trầm Toàn cầu trong  các năm 2008-2009.&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;blockquote&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Lý do quan trọng nhất khả dĩ giải thích  trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ do sự am  hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="right"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nếu có một lý do quan trọng nhất khả dĩ  giải thích trường hợp này thì có lẽ đó là sự lạc quan thiếu cơ sở của Chính phủ  do sự am hiểu chưa tường tận về quy luật kinh tế và lại ít chú trọng đến phẩm  chất cuộc sống của người dân. Câu chuyện này khá dài nên tôi xin đi từng bước  giải thích.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Trước tiên, lãnh đạo Việt Nam là những người đa nghi và chưa  am hiểu quy luật kinh tế. Họ  thảo luận rất căng vì nhiều chuyện không đáng và  ngần ngại ký kết một số thỏa thuận với bên ngoài, như Hiệp định Thương mại Song  phương với Hoa Kỳ năm 2000 hoặc thỏa ước gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới  năm 2006. Lồng trong sự thiếu hiểu biết đó là một phản ứng khác cũng đáng nói  không kém là "đầu cơ kiến thức". Tức là không chia sẻ thông tin một cách rộng  rãi cho mọi người về những luật chơi mới trong nền kinh tế thị trường. Trong khi  ấy, và đây là yếu tố thứ ba, Chính quyền lại thích tuyên truyền cho nên khi có  những thay đổi về quy luật ứng xử về kinh tế thì lại coi đó là thành tích và chỉ  nói đến những mặt tích cực mà không cảnh báo về loại vấn đề mà kinh tế quốc dân  có thể gặp. Từ sông hồ con con khi ra tới biển lớn thì mình sẽ gặp những thách  đố mới và lớn lao hơn. Hậu quả của ba đặc tính đa nghi, giấu diếm vì tư lợi và  tuyên truyền về chính trị là quốc gia không được chuẩn bị cho một trò chơi lớn  sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức WTO. Khi ấy, người ta chỉ lạc quan hồ  hởi và không nhìn xa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng: &lt;i&gt;Như vậy, ông trở lại nguyên ủy sâu xa của vấn đề  ngày nay từ việc Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO từ gần năm năm về trước?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng vì một vụ khủng hoảng như hiện  nay có những nguyên nhân sâu xa chứ không thể xảy ra bất ngờ đâu. Lãnh đạo giỏi  là người phải biết tiên liệu là trường hợp không có tại Việt Nam. Mà làm sai lại  không bị kỷ luật là trường hợp chỉ có tại Việt Nam. Tôi xin được giải thích  tiếp.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO thì đến lượt giới đầu  tư quốc tế cũng lạc quan hồ hởi vì triển vọng phát triển của xứ này. Kết quả là  trong không khí phấn khởi chung, nguồn tư bản trút vào Việt Nam đã tăng ào ạt và  thực tế là tăng quá sức hấp thụ của một nền kinh tế dù sao vẫn có cơ chế èo uột  và một hệ thống quản lý kinh tế rất thô sơ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://lh6.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOw0B6mScI/AAAAAAAAKvU/I_uxURiZNAY/s1600-h/clip_image004%5B4%5D.jpg"&gt;&lt;img alt="clip_image004" border="0" height="270" src="http://lh6.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOw10pTxTI/AAAAAAAAKvY/-kuEiWoYV8M/clip_image004_thumb%5B1%5D.jpg?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: block; float: none; margin: 0px auto; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="clip_image004" width="370" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt;Tiền đồng Việt Nam và tiền đô la Mỹ. &lt;i&gt;AFP&lt;/i&gt; PHOTO&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Chúng ta nhìn thấy việc đó qua cách ứng xử của Việt Nam với  một nguồn tiền bỗng dưng tràn ngập trong nhiều dự án đầu tư mà ít ai thẩm định  giá trị kinh tế. Nếu Việt Nam có kinh nghiệm thì có thể đã thấy tái diễn hiện  tượng tôi gọi là sự hồ hởi Đông Á 10 năm về trước, trước khi có vụ khủng hoảng  1997-1998. Khi vụ khủng hoảng ấy xảy ra trong các lân bang, Việt Nam không bị  hiệu ứng trực tiếp và nặng nề vì chưa hội nhập với thế giới bên ngoài và lãnh  đạo lại chẳng hiểu như vậy mà cứ tưởng rằng mình khôn. Vì vậy, nên 10 năm sau  không chuẩn bị ứng phó với nguồn tiền quá nhiều quá rẻ tràn vào như đã tràn vào  Thái Lan, Malaysia hay Phi Luật Tân trước đó.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguy cơ khủng hoảng?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng: &lt;i&gt;Theo như ông phân tích thì Việt Nam có gặp lại bài  toán của các nước Đông Á 10 năm về trước khi tư bản nhập nội đã đột ngột trút  vào nền kinh tế?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy về hai mặt tâm lý và  quản lý. Nhưng không hẳn là vì vậy mà Việt Nam sẽ lại bị khủng hoảng y hệt như  các nước lân bang Đông Á kia, mà có thể lại gặp chuyện khác. Tôi xin giải thích  tiếp trước khi mình nói đến những chuyện khác đó là gì.&lt;/div&gt;&lt;blockquote&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Việt Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa  kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên  của lãnh đạo.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="right"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Khi đầu tư nước ngoài tràn vào kể từ năm 2007 tới cao điểm là  2009, và lên tới 10% của tổng sản lượng nội địa GDP, lãnh đạo Việt Nam thực tin  vào sự tuyên truyền của chính mình mà không nhìn ra vấn đề. Vì tin như vậy nên  cũng hồ hởi chạy theo trào lưu lạc quan của thiên hạ mà bơm tín dụng vào kinh tế  với mục tiêu là đạt mức tăng trưởng rồng cọp. Cùng với đầu tư nước ngoài, lượng  tín dụng đó dẫn tới hiện tượng gọi là nóng máy kinh tế, tức là gây nguy cơ lạm  phát. Yếu kém về khả năng quản lý khiến Việt Nam khó đối phó với nạn lạm phát  tiền tệ do tự mình gây ra. Huống hồ là trong năm 2008, Việt Nam còn lãnh thêm áp  lực lạm phát ngoại nhập là giá thương phẩm và lương thực đều tăng. Vì vậy, Việt  Nam gặp hai yêu cầu trái ngược là vừa kềm hãm lạm phát vừa đạt tốc độ tăng  trưởng cao mà tăng trưởng lại là ưu tiên của lãnh đạo.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Thế rồi, vào đúng lúc đó, thế giới lại bị nạn Tổng suy trầm  2008-2009 và ưu tiên là tăng trưởng khiến Việt Nam lại áp dụng bài bản Trung  Quốc là bơm tiền vào kinh tế để kích thích sản xuất. Nhưng lại còn hơn Trung  Quốc là với số lượng kích cầu cao gần gấp rưỡi so với Tổng sản lượng, bằng 22%  GDP! Người thiếu kinh nghiệm cứ thường hay quá khích như vậy...&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng: &lt;i&gt;Như vậy, trên đại thể thì ta có thể hiểu ra vì sao  Việt Nam đang bị nguy cơ lạm phát cao nhất các nước trong khu vực. Nhưng vì sao  cùng lúc đó Việt Nam lại bị khủng hoảng về ngoại hối, hoặc vì sao Việt Nam lại  bị nhập siêu đến nỗi dự trữ ngoại tệ cứ hao hụt dần?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Sau khi phân tích nguyên nhân từ tâm lý  đến chính sách của vụ khủng hoảng hiện tại, ta mới nhìn vào sự non yếu của cơ  chế kinh tế, cũng xuất phát từ chính sách.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Nguồn tín dụng bơm ra để kích cầu đã tạo ra một sức hút đáng  kể về nhập khẩu trong khi xuất khẩu không tăng cùng nhịp độ, vì vậy mới có nạn  nhập siêu là nhập nhiều hơn xuất. Nhưng, trong cơ chế kinh tế bất thường của xứ  này có một khu vực gọi là chủ lực lại giữ ví trí chuyển lực như sợi dây curoa  trong một bộ máy, là các doanh nghiệp nhà nước. Chính doanh nghiệp nhà nước thu  hút nhiều tài nguyên nhất và thay vì trút vào các dự án sản xuất lại dồn qua thị  trường đầu cơ tài chính và bất động sản. Một thí dụ điển hình mà không duy nhất  là việc Tập đoàn Vinashin đã hút tiền và đẩy qua những ngành không thuộc diện  sản xuất chủ yếu của mình.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOw2-AEGdI/AAAAAAAAKvg/Z0_B9rcH7Sg/s1600-h/clip_image006%5B4%5D.jpg"&gt;&lt;img alt="clip_image006" border="0" height="230" src="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOw44bMZyI/AAAAAAAAKvs/J-KGwphYLiw/clip_image006_thumb%5B1%5D.jpg?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: block; float: none; margin: 0px auto; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="clip_image006" width="376" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt;Giao dịch tiền đồng tại một ngân hàng ở Hà Nội. &lt;i&gt;AFP&lt;/i&gt;  PHOTO&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Sự non yếu thứ hai, cũng thuộc về chính sách, là người ta  không chỉ nhập khẩu để chế biến và tái xuất khẩu mà còn nhập nhẩu nhiều hơn nhu  cầu chế biến đó. Thí dụ ai cũng nghĩ ra là khi Việt Nam mua vào các linh kiện  điện tử để ráp chế và bán ra ngoài, vậy mà số mua lại cao hơn số bán tới 40% nên  gây ra nạn nhập siêu rất lớn. Trung bình mỗi tháng Việt Nam bị nhập siêu mất  khoảng một tỷ đô la. Trong hiện tượng nhập cảng thả giàn này ta còn thấy ra việc  mua vào rất nhiều loại xa xỉ phẩm đắt tiền mà chỉ một thiểu số có tiền và có  quyền mới có thể hưởng. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng: &lt;i&gt;Xin hỏi ông ngay một câu rất nóng hổi của thời sự.  Trong mấy năm đầy biến động như vậy vì sao nhiều doanh nghiệp Việt Nam lại xuất  khẩu vàng qua Thụy Sĩ lên tới mấy tỷ đô la dưới dạng vàng trang sức để họ đúc  thành vàng thỏi?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là do nhiều lỗ hổng trong cơ chế  kinh tế quá thô thiển. Nếu xuất khẩu vàng dưới diện trang sức lại được miễn thuế  so với 10% thuế suất đánh trên vàng thoi thì nhiều doanh nghiệp có thể kéo vàng  thành dây rất thô sơ để bán ra dưới dạng vàng trang sức cho bên kia mua vào và  đúc lại thành vàng thoi! Nhà nước thì coi đó là thành tích xuất khẩu được gần ba  tỷ đô la nữ trang! Đơn giản như vậy thôi mà cũng giúp nhiều người thu vào mấy  trăm triệu một năm, cho tới khi nhà nước biết ra thì quá trễ! Sự non yếu của nhà  nước có thể thấy ra từ thí dụ kỳ lạ như vậy, cho tới khi phải đột ngột ra lệnh  cấm luôn cả việc buôn bán vàng thoi!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Kịch bản đáng sợ&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng:&lt;i&gt; Trở lại chuyện tương lai, chính quyền Việt Nam  đang ráo riết đối phó với nguy cơ lạm phát, liệu việc đó có thành hay  không?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa  tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là  một kịch bản rất đáng sợ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Thứ nhất, Việt Nam có ban hành nhiều biện pháp kềm hãm tín  dụng qua các loại lãi suất và dự trữ pháp định, nhưng tới 45% tài sản của hệ  thống ngân hàng vẫn nằm trong tay các ngân hàng của nhà nước và vì các ngân hàng  này bị chi phối bởi chính sách nhà nước thì biện pháp tiền tệ như tại các xứ  khác vẫn không có hiệu quả. Song song cùng các khí cụ đòn bẩy như lãi suất, Việt  Nam vẫn phải điều tiết ngân hàng bằng thông tư hành chính, với hiệu quả rất  thấp. &lt;/div&gt;&lt;blockquote&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Sau hàng loạt biện pháp vừa qua, tôi chưa  tin rằng ưu tiên sẽ là ổn định vật giá mà vẫn là đẩy mạnh tăng trưởng. Đây là  một kịch bản rất đáng sợ.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="right"&gt;&lt;span style="color: #c0504d;"&gt;Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Việc thứ hai là yếu tố lạm phát ngoại nhập. Giá thương phẩm  và nông sản đang tăng trên thế giới nên phần nào có lợi cho nông gia và giới  xuất khẩu nông sản như gạo, cao su, cà phê, hạt điều nhưng lại gây khó khăn cho  nhiều ngành sản xuất khác. Ngân sách Việt Nam không thể tiếp tục trợ giá năng  lượng như điện và xăng dầu nên phải cho tăng giá và sẽ còn tăng nữa.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Chuyện thứ ba là Việt Nam đã và sẽ còn phải phá giá đồng bạc  so với đô la Mỹ, vốn dĩ xuống giá khắp nơi trừ tại Việt Nam. Khi phá giá như  vậy, ngành du lịch có thể kiếm lợi và vì vậy lại hút thêm đầu tư nước ngoài vào  khách sạn và đẩy tiếp nạn bong bóng địa ốc trong khi các ngành khác đều bị điêu  đứng vì phá giá cũng gây ra lạm phát. Một trong những nơi bị chấn động nặng nhất  chính là thị trường chứng khoán của Việt Nam. Tôi nghĩ rằng chỉ số VN-Index ở  trong Nam sẽ rớt xuống "thực giá" của nó là giữa 350 đến 450 điểm, và tác động  thực tế thì không nhiều nhưng về tâm lý lại lớn hơn và càng dễ gây ra phản ứng  hốt hoảng. Tức là sau mấy năm lạc quan hồ hởi, người ta sẽ lại bi quan hốt  hoảng, là điều cực bất lợi cho kinh tế và là một thách đố lớn về chính sách.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vũ Hoàng:&lt;i&gt; Như vậy, liệu Việt Nam có gặp một vụ khủng hoảng  như các nước Đông Á thời 97-98 không?&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nhiều người lạc quan thì không tin vào  kịch bản đó. Bản thân tôi thì không được như vậy mà không phải vì hiệu ứng của  thiên tai vừa xảy ra tại Nhật Bản dù sao chưa gây tai hại cho Việt Nam như cho  nhiều nước khác trong khu vực.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Lý do thận trọng là người ta chưa thấy ra quyết tâm ổn định  vật giá so với ưu tiên của chế độ vẫn là đạt mức tăng trưởng cao. Chúng ta có  thấy điều ấy ở chi tiêu tăng trưởng là từ 7 đến 7,5% trong kế hoạch kinh tế năm  năm. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Thứ hai là ngay trong cách đối phó với nạn lạm phát, người ta  vẫn thấy một sự bất nhất, thiếu phối hợp và nguy hiểm nhất là sự cám dỗ của giải  pháp bao cấp năm xưa. Tức là trở lại chế độ kiểm soát giá cả và giao dịch như ta  đã thấy trên thị trường vàng và đô la. Việc kiểm soát duy ý chí như vậy không  công hiệu, gây ra tham nhũng buôn lậu và càng dội ngược vào bội chi ngân sách,  sau cùng còn gây ra sức bật của thị trường, là làm cho lạm phát còn bùng nổ dữ  dội hơn.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Nói vắn tắt lại, người ta chỉ tin tưởng là Việt Nam đã trưởng  thành khi cải tổ cái mấu chốt của cơ chế là hệ thống doanh nghiệp nhà nước bất  lực và bất công và khi nhà nước chấn chỉnh được hệ thống chi tiêu và khả năng  quản lý của mình. Trong khi chờ đợi thì nên lo nhiều hơn mừng.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Theo RFA&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-7997119209699288222?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/7997119209699288222/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=7997119209699288222' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7997119209699288222'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7997119209699288222'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/04/viet-nam-khung-hoang-vi-ho-hoi.html' title='Việt Nam: khủng hoảng vì hồ hởi'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://lh6.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TaOwzSo5XuI/AAAAAAAAKvQ/c017DlENnKQ/s72-c/clip_image002_thumb.jpg?imgmax=800' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-5910393822743576803</id><published>2011-04-06T10:52:00.000+07:00</published><updated>2011-04-06T10:52:46.047+07:00</updated><title type='text'>Việt Nam và Nhật Bản</title><content type='html'>Đọc Góc ảnh chiếu từ nước Nhật của nhạc sĩ Tuấn Khanh, dù đau  lòng tôi cũng đồng tình với ông: " Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước  Nhật, người ta bừng sáng hy vọng - và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên  là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những  ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn". Đã có nhiều bài viết cho rằng nếu tai họa  như nước Nhật xảy ra ở nước ta thì có thể hình dung nhiều điều xấu xa sẽ xảy ra  bởi sự băng hoại đạo đức của người Việt. Mới đây, có ý kiến chỉ đạo báo chí:  "Khi đề cao tinh thần vượt khó của nhân dân Nhật Bản không nên cường điệu, vô  hình chung (trung) hạ thấp tinh thần của người Việt Nam". Cường điệu là điều  không nên, tuy nhiên có cần phải lo lắng "vô hình trung hạ thấp tinh thần của  người Việt Nam" ? Lổ Tấn chọn đơn thuốc AQ đắng nghét đã có hiệu quả chữa trị  tinh thần bạc nhược của người Tàu. Sau này, nhà văn hóa Bá Dương tiếp tục mổ xẻ  "Người Trung Quốc xấu xí" cũng được đồng bào ông cho là cần thiết.&lt;div class="post-body entry-content"&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;  &lt;div align="justify"&gt;Nhân chuyện này, tôi muốn chúng ta cùng nhớ rằng dân tộc ta vốn  không phải xấu xa như hôm nay mà đã từng có những thời kỳ rất tốt đẹp . Hằng  ngàn năm trước, ông cha ta có tư tưởng nhân văn vượt thời đại: "Thương người như  thể thương thân". So với "Điều gì mình không muốn thì đừng gây ra cho người" của  Khổng Tử quả là cao hơn. Con cái biết sánh: "Công cha như núi Thái sơn / Nghĩa  mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Cha mẹ mong muốn "Con hơn cha là nhà có phúc"  chứ không đòi hỏi "Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu". "Thuận vợ đồng chồng  tát bể Đông cũng cạn" chứ không phải "phu xướng phụ tùy "... Đối với hàng xóm  thì "Tối lửa tắt đèn có nhau". Đối với đồng bào thì "Người trong một nước phải  thương nhau cùng" v.v.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Những ai đã từng trải qua thời kháng chiến chống thực dân Pháp  đều biết: Ở các vùng giải phóng, đêm nhà nhà không cài cửa. Nhân dân giành nhau  đón mời bộ đội về nhà mình để chăm sóc nuôi dưỡng. Đơn vị tôi có anh Nguyễn  Hoàng Minh là người Bắc, được các bà các mẹ bảo: "Tao thương nó hơn tụi bay. Nó  xa cha xa mẹ vô đây". Trong lần nói chuyện với cán bộ miền Bắc sắp đi B (vào  Nam),Tổng bí thư Lê Duẩn kể, thời chống Pháp, ông ở nhà dân và họ đều biết ông  là Bí thư Trung ương cục. Mỗi lần ông đi công tác về gặp bữa cơm, ông bà chủ nhà  hỏi: "Thằng Ba, mầy ăn cơm ở đâu chưa? Chưa, thì vô bếp lấy chén đũa ra ăn luôn  nghe!". &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Khi tập kết ra Bắc, đơn vị tôi đóng quân ở nhiều vùng.Tôi nhận  ra là đồng bào mình ở miền Bắc cũng sống đầy tình nghĩa như trong Nam, dù vật  chất có thiếu thốn hơn. Thời Mỹ ném bom phá hoại, nhân dân các vùng khu IV dám  đem ván phảng nhà mình lót hố bom cho xe bộ đội kịp chuyến vào Nam. Các vùng bị  B52 dội bom ác liệt như Khâm Thiên, Gia Lâm..., hoàn toàn không có hiện tượng  hôi của. Xăng dầu, quân dụng rải dọc theo ven đường không cần canh giữ, cũng  không bị trộm cắp...&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Câu thành ngữ "Ra ngõ gặp anh hùng" mô tả chính xác con người  Việt Nam trong suốt 30 chiến tranh. Toàn dân tin những người lãnh đạo đang dồng  cam cộng khồ với mình vì "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do". Do vậy mà được  thế giới nhìn vào,ca ngợi "Việt Nam là lương tâm của nhân loại"! &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tại sao người Nhật thảm bại trong chiến tranh, đã có thể vươn  dậy làm nên sự "thần kỳ Nhật Bản". Còn ta thì ngược lại từ "ra ngõ gặp anh hùng"  đến tình trạng "Đến chỗ nào cũng thấy ăn cắp"! Có lẽ xem xét hiện tượng trái  ngược này sẽ giúp chúng ta thu được nhiều điều bổ ích ? &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Có người cho rằng, vì người Nhật tiếp tục những bài học từ thời  Thiên Hoàng. Nói như vậy thì xa xôi quá! Tôi nghĩ, chỗ khác nhau giữa ta và họ  là cách rút ra bài học sau chiến tranh, từ đó mà tìm đúng con đường đi tới.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Người Nhật bại trận đã nhanh chóng nhận ra nguyên nhân thất bại  của mình là đi ngược lại xu thế thời đại: Chủ nghĩa Sôvanh (Ph. Nicolas  Chauvin), chủ nghĩa thực dân với mọi hình thức đã bị lịch sử phủ định .Người  Nhật cũng nhanh chóng nhận ra, Mỹ là một quốc gia dân chủ, đề cao nhân quyền, họ  tham gia lực lượng Đồng minh chỉ nhằm chống phe trục, chứ không có mưu toan  chiếm Nhật làm thuộc địa. Từ nhận thức đó, dù vừa bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử  đầu tiên, người Nhật không coi họ là kẻ thù mà tự nguyện giao kết là đồng minh  chiến lược trong công cuộc phục hưng đất nước. Nhờ quan hệ này, người Nhật suốt  thời gian dài không phải bỏ nhiều chi phí cho quốc phòng, tập trung mọi nguồn  lực cho phát triển kinh tế, xã hội, trở thành tấm gương tốt đẹp nhiều mặt:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;1 - Từ bỏ độc tài quân phiệt, xóa hệ thống chính trị phát xít,  tôn trọng dân chủ, nhân quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân  lập. Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng nắm quyền cao nhất  về quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của Quốc hội hai viện, cùng Tòa án Hiến  pháp nhằm ngăn chặn những quyết định vi hiến của Chính phủ. Thế giới coi Nhật là  một nước có nền dân chủ đầy đủ, ưu việt vào bậc nhất. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;2 - Chuyển đổi nền kinh tế phục vụ chiến tranh thành nền kinh  tế dân sinh, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu. Từ hoang tàn người  Nhật xây dựng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Gần đây Trung Quốc tuyên bố đã  chiếm vị tri nền kinh tế lớn thứ 2, nhưng mức thu nhập bình quân của người Trung  Quốc còn thấp quá xa so với Nhật. Trong khi đó Nhật không có tình trạng cách  biệt giàu nghèo khủng khiếp như Trung Quốc!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;3 - Xây dựng nền văn hóa tiên tiến và bảo tồn bản sắc tốt đẹp  của truyền thống Nhật Bản; một nền giáo dục hàng đầu thế giới về đào tạo những  con người phát triển toàn diện. Nền văn hóa và giáo dục đó sản sinh 2 nhà văn  đoạt giải Nobel văn học là Yasunari Kawabata, Kenzaburo Oe và nhiều văn tài khác  như Kôbô Abê , Haruki Murakami. Trà đạo, hát ka-ra-o-kê, thơ Hai-ku, ẩm thực  Nhật được thế giới hâm mộ. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đặc biệt những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn cho nhân dân  Việt Nam mà chúng ta chưa thực hiện được đã có thể nhìn thấy ở Nhật Bản như :  "Chính quyền từ xã tới trung ương phải do nhân dân lập ra"; "Nếu Chính phủ làm  hại dân thì nhân dân có quyền đuổi Chính phủ", "Cán bộ, đảng viên là người lãnh  đạo và là đày tớ của nhân dân"... Mấy năm qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều  vị Thủ tướng Nhật chỉ vì chưa thực hiện được một lời hứa náo đó đã phải từ chức,  chứ chưa cần người dân đưa đơn kiện. Trong vụ động đất hiện nay, chúng ta thấy  ông Thủ tướng Can vô cùng tất bật vẫn bị người dân Nhật phê phán đã chậm có mặt  ở nơi bị tàn phá nặng nhất . &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tai họa vừa qua, phẩm chất con người Nhật Bản được nhân loại  thán phục chính là kết quả của nền chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục ưu  việt của họ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hàng chục năm qua, Việt Nam chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ  hào hiệp của Nhật Bản.Hiện nay hàng vạn sinh viên và người xuất khẩu lao động  Việt Nam đang học tập và lao động ở Nhật. Nhiều nhà lãnh đạo nước ta trân trọng  đề cao mối quan hệ đối tác chiến lược Nhật - Việt. Chẳng lẽ chúng ta không biết  trân trọng tìm học con đường đưa tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công  bằng văn minh theo kiểu Nhật? Tựu trung gồm 3 điểm vừa kể ở trên.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chúng ta ra khỏi chiến tranh với tư thế người anh hùng chiến  thắng siêu cường số 1 thế giới! Nguồn sức mạnh để chiến thắng, được chúng ta  nhận định là từ "3 dòng thác cách mang" thế giới. " Chủ nghĩa Mác - Lênin bách  chiến bách thắng muôn năm !" được chúng ta trương cao khắp đất nước như là một  tuyên ngôn, là tổng kết chiến tranh và là ngọn cờ sẽ dẫn đường đi tới. Từ nhận  định đó đưa tới đổi tên Đảng, đổi quốc hiệu, thực hiện chuyên chính vô sản, vạch  ra đường lối tiến nhanh tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trong  khi đó, trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, đã có  nhiều dấu hiệu rạn vỡ. Rạn vỡ dễ thấy nhất là sự chống đối nhau điên cuồng, kể  cả bằng vũ lực của hai nước lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc, cho thấy điều gọi  là chủ nghĩa quốc tế vô sản không hề tồn tại! Mãi đến khi đã bị Trung Quốc phản  bội tấn công, chúng ta vẫn kiên trì nhận định Mỹ là kẻ thù lâu dài, nguy hiểm,  còn Trung Quốc chỉ là kẻ thù trực tiếp, bởi đang có một nhóm cầm quyền mang tư  tưởng bá quyền bành trướng. Do nhận định như vậy, ngay sau khi Liên Xô, Đông Âu  sụp đổ, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh vội vàng sang cầu hòa với Trung Quốc trong  thế yếu, ca ngợi "16 chữ vàng", trong thực tế đau buồn là đang bị chiếm đất,  chiếm đảo, đưa tới nghịch cảnh mãi tận hôm nay! Để Trung Quốc có cớ xâm lược là  không khôn khéo, tuy nhiên thỏa hiệp vô nguyên tắc và không biết tìm cách để  chọn nhiều đồng minh chiến lược, đối trọng với họ giữ vững an ninh cũng là không  biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Khác hẳn chúng ta, người Mỹ nhanh chóng nhận ra thất bại của họ  trong cuộc chiến là đã không hiểu được sức mạnh từ chủ nghĩa yêu nước của người  Việt (Hồi ký của nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara). Họ muốn sớm lập quan  hệ với chúng ta, nhưng trớ trêu thay chúng ta không vượt qua nổi mối thù! Chúng  ta không hiểu đúng sức mạnh quyết định chiến thắng của mình chính là được khơi  dậy từ lời kêu gọi chính xác của Hồ Chí Minh:"Không có gì quý hơn Độc lập Tự  do"! Hiện tượng hàng triệu quân chế độ Sài Gòn dễ dàng tan rã, chắc chắn không  phải vì họ hèn kém bởi họ cũng là con Lạc, cháu Hồng, chắc rằng họ rã ngũ vì  không thấy mình đối địch với cộng sản, mà đối địch với Độc lập Tự do! Ông Lê  Duẩn cho rằng phải "giương cao 2 ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" ,  trong tình thế bấy giờ là đúng, bởi vì cần phải có vũ khí của Liên Xô,Trung  quốc. Tuy nhiên, "ngọn cờ xã hội chủ nghĩa" mặt khác đã làm cho sự quyết đấu vì  ý thức hệ giữa Tự do và Cộng sản của Pháp, Mỹ càng thêm quyết liệt. Nói như vậy,  không hề có ý giảm nhẹ trách nhiệm của Pháp và Mỹ. Cho đến khi đã bị sa lầy  trong cuộc tái chiếm thuộc địa, phải tìm giải pháp Bảo Đại, thế mà người Pháp  vẫn làm cho "con ngựa cũ" của mình phải lồng lộn: "Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp  đoạn giao với "Bác Hồ" chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất  của họ nhiều hơn lý do họ là cộng sản quốc tế" (Bảo Đại - Con Rồng Việt Nam,  trang 334). Từ thời ấy, Mỹ đã gánh cho Pháp hơn 80% chiến phí. Chính thực dân  Pháp và đế quốc Mỹ đã đẩy Cụ Hồ phải tìm chỗ dựa Trung quốc, Liên Xô . &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nếu tỉnh trí, nhìn đúng thế mạnh chiến thắng vừa qua của mình,  chúng ta sẽ trở lại với Cụ Hồ khi trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn  nhân quyền và dân quyền của Pháp làm Tuyên ngôn độc lập Việt Nam, .mà vấn đề cốt  lõi là Dân chủ và Nhân quyền. Nếu sớm nhận thức như vậy chúng ta ắt sẽ chủ đông  thực hiện đường lối Đổi mới khi chưa bị tình thế thúc ép. Và như vậy sẽ là không  có cải tạo xã hội chủ nghĩa công, nông, thương nghiệp; cũng không cần cải tạo  cán binh Sài Gòn; sẽ không có nạn thuyền nhân. Toàn thế giới sẽ tiếp tục đứng  bên Việt Nam như 30 năm qua. Trung Quốc không dễ lôi kéo Mỹ để gây cho chúng ta  hai cuộc chiến thảm khốc. Với thế và lực mới ấy, chúng ta sẽ phát triển nhanh  chóng, có thể chưa theo kịp Nhật Bản, nhưng chắc chắn không thể kém Hàn quốc,  bởi họ còn bị trì kéó bởi một Bắc Triều Tiên. Tiếc thay!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Dù sao chúng ta cũng còn may mắn hơn Bắc Triều Tiên, Cu Ba, vì  đã có những nhà lãnh đạo dám xé rào, Đổi mới, dù đã đến lúc bế tắc. Cuộc Đổi mới  đã đem lại sức sống cho nền kinh tế Việt Nam mà thành tựu của nó đã được ca ngợi  quá nhiều, thiết tưởng không cần phải nhắc lại. Riêng đối với Đảng Cộng sản thì  cuộc Đổi mới đã đem lại thế mạnh nào và đào sâu thế yếu nào? Và nó đã tác động  ra sao đối với phẩm chất con người Việt Nam? Đó là những vấn đề cực kỳ rộng lớn  mà chúng tôi không có tham vọng giải đáp được, chỉ mong xới lên để các nhà lý  luận của Đảng Cộng sản và các bậc thức giả trong ngoài nước cùng bàn. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tôi nhớ, đầu những năm 90 ông Nguyễn Cao Kỳ trả lời câu hỏi: Vì  sao vốn là người kiên quyết chống Cộng, ông lại kêu gọi hòa hợp dân tộc, về nước  hợp tác với chính quyền cộng sản phát triển đất nước? Ông Kỳ đáp: Tôi nghĩ rằng  ở Việt Nam không còn cộng sản. Bởi tôi hiểu công sản chủ trương chỉ còn một giai  cấp và không chấp nhận kinh tế thị trường .Nay họ công nhận kinh tế nhiều thành  phần giai cấp, phát triển thị trường tự do. Họ giống như những thày tu đã ngả  mặn rồi mà vẫn cứ đòi gọi mình là thày tu. Ý kiến nôm na của ông Kỳ hoàn toàn  phù hợp với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin . Những nhà lý luận Mác  xít của Việt Nam cứ khất lần khất lữa suốt 25 năm vẫn không thể tìm ra định  nghĩa mới cho chủ nghĩa xã hội ngoài câu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,  văn minh, 5 năm sau được bổ sung thêm từ Dân chủ đứng sau từ Công bằng, rồi phải  mất 5 năm nữa từ Dân chủ mới được chuyển lên đứng trước Công bằng! Ôi, nguyện  vọng dân chủ đã được Hồ Chí Minh khơi dậy, nhân dân ta đã tốn bao xương máu để  giành lấy vậy mà sao thực hiện nó vất vả đến như vậy!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Những người mác xit đều biết lý thuyết về sự phù hợp giữa kiến  trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng. Trong lời tưạ Tuyên ngôn đảng cộng sản in  bằng tiếng Đức ngày 28-6-1883, Ăng-ghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản  xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà  ra - cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của  thời đại ấy ". Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ lời dạy đó, nên đã  nhiều lần nhắc lại rằng phải Đổi mới toàn diện từ kinh tế đến chính trị, văn  hóa, xã hội. Văn kiện Đại hội 11 cũng nhắc "Đổi mới trong lĩnh vực chính trị  phải đồng bộ với đổi mới kinh tế". Tuynhiên cho tới nay hệ thống chính trị hầu  như không có thay đổi gì đáng kể so với 25 năm trước. Cuộc bầu cử Quốc hội đang  xúc tiến từ cung cách đến nội dung chỉ đạo cũng na ná như xưa. Về tỉ lệ đảng  viên trong Quốc hội, ông Võ văn Kiệt cho rằng chỉ nên hơn 50%, khóa 12 là 92%,  khóa này được nêu ra là từ 85 đến 90% . Ông Võ văn Kiệt cũng đề nghị "Về cơ bản  đã làm đại biểu Quốc hội thì thôi không làm quan chức hành chính nữa". Nhưng  khóa này quan chức hành chính ứng cử vẫn đông!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Do cơ cấu xã hội không phù hợp sản xuất kinh tế như Ăng-ghen  nêu ra mà đã xảy ra những điều tréo ngoe giữa thực tế cuộc sống với lý thuyết từ  các nghị quyết. Có thể nêu ra hàng chục dẫn chứng, nhưng chỉ xin nêu hai điều  đang trở thành hiểm họa cho Dân tộc và cho cả Đảng cộng sản :&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;1 - Trong khi chúng ta dành những lời thân thiết nhất cho các  quốc gia Đảng cộng sản lãnh đạo, cho cánh tả, coi sức mạnh thời đại ta cần phải  kết hợp là ở đó thì thực tế là chúng ta phải dựa vào sự giúp đỡ lớn nhất ở các  nước tư bản tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc... những đồng minh chiến lược của Mỹ.  Trớ trêu hơn là Trung Quốc, người đồng chí có chung16 chữ vàng, chung mục tiêu 4  tốt, chung quan điểm trong nhiều sự kiện lớn của thế giới (như Bắc Phi, Libi...)  và chính sách đối nội (như dân chủ, nhân quyền; bên kia thì có Lưu Hiểu Ba, bên  này là Cù Huy Hà Vũ). Dù chúng ta đã cố sức chiều theo họ rất nhiều vấn đề khó  chiều như: Họ đóng cửa các công trình khai thác bôxít ở nước họ, để sang khai  thác bôxit trên "mái nhà" của nước ta và cả Đông Dương. Mới hôm qua, họ xả nước  bẩn làm ô nhiễm Sông Hồng, nhưng chính quyền Vân Nam thẳng thừng từ chối đề nghị  khẩn thiết của Lào Cai cùng phối hợp nhau để kiểm tra! &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Càng trớ trêu thay, hầu như tháng nào người phát ngôn Bộ Ngoại  giao Việt Nam cũng phải lắp đi lắp lại một lời tuyên bố giống nhau: "Trung Quốc  cần chấm dứt ngay sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam"! &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;2 - Hệ thống chính tri của chúng ta luôn luôn được đề cao về sứ  mệnh cao cả là đang lãnh đạo toàn dân tộc theo quy luật tiến hóa của lịch sử  loài người, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó suốt 20 năm  nay, những người điều hành hệ thống chính trị này luôn luôn bị các cơ quan  chuyên môn của quốc tế xếp vào "tốp 10" đại tham nhũng. Tham nhũng Việt Nam đứng  trên hơn 150 quốc gia tư bản, bộ máy điều hành của họ chắc chắn không có đảng  viên cộng sản nào! Năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định "Tham nhũng là  một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ"..Đầu năm 2011, Chủ  tịch nước Nguyễn Minh Triết cho rằng chống tham nhũng là "mong mỏi rất chính  đáng và tha thiết của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm  vụ đó tôi làm chưa xong " (Báo xuân &lt;i&gt;Sài Gòn tiếp thị&lt;/i&gt;).&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ngày nay người dân nhìn đâu cũng thấy những người đảng viên cán  bộ lúc nào cũng nói về giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, về học tập và làm  theo đạo đức Bác Hồ, về quyết tâm đi lên chủ nghĩa xã hội, trong khi đó họ chẳng  những có mức sống cao hơn hẳn người dân mà có quá nhiều người nhà cao cửa rộng,  con cái làm chủ những công ty tư nhân có vốn nhiều triệu đô la. Hơn 3.000 cuộc  đình công của công nhân không qua sự chỉ đạo của Công đoàn, hiện tương nông dân  khiếu kiện vượt cấp vùng nào cũng có, đã nói lên tâm trạng xã hội không yên  ổn!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Từ ngàn xưa, người dân vẫn nhìn vào người cầm quyền để noi theo  gương trong cuộc sống. Cổ đại có gương Nghiêu, Thuấn thuần dưỡng cả nước trở  thành lương dân. Quá nhiều người dân hư hỏng người lãnh đạo phải soi lại  mình.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chúng ta kêu gọi toàn Đảng thống nhất nói theo Nghị quyết, làm  theo Nghị quyết và các cơ quan truyền thông phải tuyên truyền đúng định hướng,  để tạo ra sự đồng thuận trong toàn dân. Hãy nhớ lại, Cụ Hồ đâu có nhiều lời, chỉ  cần một câu thôi, đã khiến cả nước đứng dậy đi theo dù con đường vô cùng gian  khổ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hai năm qua có quá nhiều điều dù Đảng có Nghị quyết, báo chí  tuyên truyền theo định hướng, nhưng không dễ tạo ra được đồng thuận, Ví dụ:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bôxít, đã có hàng  ngàn chữ ký kiến nghị dừng lại, có những chữ ký của các vị đáng kính như Đại  tướng Võ Nguyên Giáp; nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; người anh hùng  có nụ cười công phá chế độ Sài Gòn Võ thị Thắng; những nhà khoa học hàng đầu đất  nước như Nguyễn văn Hiệu; Chu Hảo; Đặng Hùng Võ; Nguyễn Quang A...&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Mới hôm qua đây là vụ án Cù Huy Hà Vũ. Dù anh ấy có văn phong  không quen tai như lâu nay (như ông bà mình nói, trực [trung] ngôn nghịch nhĩ) ,  nhưng tất cả nội dung đều nằm trong quyền công dân mà ngày xưa, Bác Hồ từng  khuyến khích và Hiến pháp hiện hành không cấm. Do vậy, mặc dù muốn làm cho vụ án  trở thành bé nhỏ ,không quan trọng (các bản tin VTV tối 4 tháng 4 năm 2011 đều  không xếp vào các tin quan trọng; phiên tòa gói gọn không hết một ngày). Nhưng  tầm quan trọng của nó vẫn cứ lộ rõ, bởi: nhiều tướng lĩnh cách mạng, văn nghệ  sĩ, bình luận viên báo chí trong và ngoài nước cho rằng Hà Vũ nói những điều  nhiều người nghĩ như thế mà không nói; Giáo dân thắp nến cầu nguyện trước ngày  tòa xử; và các ngả đường quanh tòa án có quá nhiều cảnh sát bảo vệ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nước Nhật không thể có những vụ án tương tự. Chúng ta có nên  học tập Nhật Bản? Nên lắm chứ ! Tuy nhiên trước hết nên học tập Hồ Chí Minh,  không chỉ học và làm theo đạo đức mà trước hết hãy học và thực hiện tư tưởng Tự  do, Dân chủ của Người!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Theo Tống Văn Công (st)&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-5910393822743576803?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/5910393822743576803/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=5910393822743576803' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5910393822743576803'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5910393822743576803'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/04/viet-nam-va-nhat-ban.html' title='Việt Nam và Nhật Bản'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-7745361255177997619</id><published>2011-03-21T10:05:00.000+07:00</published><updated>2011-03-21T10:05:31.852+07:00</updated><title type='text'>Những điều bạn cần biết về thảm họa hạt nhân của Nhật Bản</title><content type='html'>&lt;b&gt;  Ars Technica vừa có một bài viết rất hay cung cấp cho chúng ta những  thông tin tổng quan về những gì đang diễn ra trong lò phản ứng hạt nhân  Fukushima ở Nhật Bản và phương thức các lò này hoạt động. Tinhte.vn xin  phép được dịch bài viết này để các bạn gạt bỏ những lo ngại vô căn cứ do  tình trạng thiếu thông tin hoặc có những thông tin sai lệch trước đây.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;a href="http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/13809/tinhte.vn_4d85bb5de767c_fukushima-dai-ichi-nuclear-plantjpg-6fbb1972e92b1302.jpg" rel="nofollow" target="_blank"&gt;&lt;img alt="" border="0" src="http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/13809/tinhte.vn_4d85bb5de767c_fukushima-dai-ichi-nuclear-plantjpg-6fbb1972e92b1302.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Nhà máy Fukushima Daiichi những ngày chưa xảy ra tai nạn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt; Đâu là bản chất của phản ứng hạt nhân?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Các phản ứng hạt nhân xảy ra bởi sự phân tách các nguyên tố phóng xạ,  chủ yếu là uranium. Có rất nhiều sản phẩm được tạo ra sau các phản ứng  này nhưng chỉ có 1 sản phẩm tạo ra được năng lượng chính là nhiệt độ.  Người ta đã sử dụng nhiều cách để tạo ra năng lượng từ nhiệt độ nhưng  phương pháp phổ biến nhất lại tương tự với nguyên tắc của một đầu máy  hơi nước cổ điển: dùng nhiệt lượng thu được đun sôi nước và sử dụng áp  lực thu được này để chạy máy phát điện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hiện tượng phóng xạ làm cho việc tạo năng lượng đơn giản hơn và cũng  phức tạp hơn. Vì sao lại đơn giản hơn? sự phân tách hạt nhân sẽ được  thực hiện dưới nước, chính vì vậy người ta chỉ cần đưa những nhiên liệu  hạt nhân vào nước là đã có thể tạo ra nhiệt lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, hiện tượng phóng xạ cũng rất phức tạp và rất khó được kiểm  soát. Cho dù nguyên liệu được giữ trong những thanh kín nhưng không gì  có thể ngăn cản dòng nước chảy vào sẽ mang theo một số chất đồng vị  phóng xạ, hệ quả là bạn sẽ không thể xả dòng nước này ra ngoài môi  trường mà buộc phải giữ kín nó trong một vòng tuần hoàn khép kín. Nước  và các thanh nhiên liệu được giữ kín dưới áp suất cao trong hàng loạt  các đường ống được kết nối với nhau để tạo ra hơi nước hoặc nước nóng  cho máy phát điện hoạt động, sau đó chúng sẽ được phun trở lại lõi của  lò phản ứng để giữ cho lò luôn mát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc phun nước trở lại lò phản ứng hoàn toàn không tạo ra năng lượng  nhưng nó là một quy trình bắt buộc để giữ cho lò hoạt động bình thường.  Nếu không kiểm soát được vấn đề này, nhiệt độ trong nhân sẽ tăng một  cách nhanh chóng, làm tan chảy nhiên liệu và các kết cấu bao bọc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; Phản ứng phân tách:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;a href="http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/13809/tinhte.vn_4d85bac5c2d6c_2855290418_f10b4ef1c3_z.jpg" rel="nofollow" target="_blank"&gt;&lt;img alt="" border="0" src="http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/13809/tinhte.vn_4d85bac5c2d6c_2855290418_f10b4ef1c3_z.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Uranium nguyên chất&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Về phần mình, các đồng vị uranium sử dụng trong phản ứng hạt nhân sẽ bị  phân hủy chậm chạp để tạo ra những nhiệt lượng rất nhỏ. Chính sản phẩm  của sự phân hủy là neutron mới tạo ra năng lượng chứ bản thân uranium  không tự thực hiện việc này. Neutron được tạo ra từ sự phân hủy của  uranium sẽ tác động làm cho các nguyên tử khác chia tách, tiếp tục tạo  ra những neutron khác và cứ thế để làm tăng mật độ neutron lên. Đến mục  lúc nào đó, chuỗi sản phẩm neutron-neutron này quá dày đặc và sẽ tạo ra  một vụ nổ hạt nhân. Tuy nhiên, chừng nào còn ở trong lò phản ứng thì vụ  nổ này hoàn toàn không nguy hiểm vì mật độ nguyên liệu vẫn được giữ ở  mức thấp. Hơn nữa, tốc độ phân tách hoàn toàn có thể được kiểm soát bằng  cách thêm vào hay bỏ bớt các thanh chứa những nguyên tố hút neutron như  boron. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho dù vậy, việc kiểm soát sự phân tách uranium ở những pha sau của phản  ứng cũng không gây ảnh hưởng đến những sản phẩm đã tạo ra trong các pha  đầu. Rất nhiều các nguyên tố được tạo ra từ sự phân tách uranium cũng  là các chất phóng xạ và chúng tự động phân tách mà không cần sự can  thiệp của các neutron. Các neutron từ uranium thậm chí còn có thể bị hấp  thụ bởi các nguyên tử khác hoặc dòng nước làm lạnh lò hạt nhân, biến  đổi chúng thành các đồng vị phóng xạ. Hầu hết các chất phóng xạ phát  sinh này sẽ tự phân hủy chỉ trong vài ngày nên nó không phải là một vấn  đề lớn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải cẩn thận vì kể cả khi phản ứng hạt  nhân bị ngắt bởi các thanh điều khiển thì lượng phóng xạ còn lại vẫn còn  đủ để chúng nóng trong một thời gian dài nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả những lý do trên làm cho hệ thống làm lạnh trở nên cực kỳ cần  thiết với một nhà máy điện hạt nhân. Tiếc rằng hệ thống ở nhà máy  Fukushima Daiichi lại gặp quá nhiều rắc rối và hoạt động không như mong  đợi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; Sống sót qua cơn động đất nhưng sóng thần đã dập nát tất cả:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Vì hệ thống làm lạnh mang ý nghĩa sống còn, các kỹ sư thiết kế đã phải  tạo ra nhiều lớp dự phòng khác nhau nhằm bảo đảm các máy bơm nước hoạt  động liên tục. Trong trường hợp phản ứng hạt nhân bị ngắt bên trong thì  hệ thống máy bơm vẫn có thể hoạt động nhờ vào năng lượng dự phòng bên  ngoài. Tiếc rằng trận động đất 9 độ richte đã làm phá sản kế hoạch này,  cách ly nhà máy Fukushima với mọi nỗ lực kết nối nguồn điện bên ngoài.  Trận động đất này cũng đồng thời làm tắt các phản ứng hạt nhân, ngắt  nguồn điện cần thiết để máy bơm hoạt động. Khi này, các kỹ sư phải kích  hoạt hệ thống dự phòng cho phép đốt nguyên liệu hóa thạch (diezen)nhằm  tạo cung cấp năng lượng cho máy bơm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật đáng tiếc, bước dự phòng này chỉ tồn tại được vài phút trước khi  cơn sóng thần ập vào và làm ngập toàn bộ hệ thống. Pin được đưa vào để  thực hiện các biện pháp dự phòng trước đó nhưng nó cũng thất bại, không  thể giúp máy bơm ở Fukushima hoạt động. Các máy phát điện bổ sung cũng  không thể chuyển đến kịp thời vì phạm vi của thảm họa là quá rộng và  chúng cũng không thể kích hoạt máy bơm hoạt động trở lại. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hệ quả như chúng ta đã biết, cho dù hầu hết các phản ứng uranium đã bị  ngắt ngay sau trận động đất nhưng nhân của nó vẫn tiếp tục nóng lên vì  sự phân hủy từ đồng vị phóng xạ được tạo ra qua những phản ứng trước đó,  điều mà chúng ta đã nhắc ở trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Những khả năng xấu:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Không có thể thống giải nhiệt, có rất nhiều khả năng xấu sẽ xảy ra với  các lò phản ứng hạt nhân. Nhiệt lượng từ lò tỏa ra sẽ làm nước nóng lên,  tạo ra hơi nước bên trong bình chứa, nâng cao áp lực và có thể làm vỡ  bình ở một điểm nào đó. Tuy lớp bảo vệ bên ngoài vẫn có thể giới hạn sự  phát tán các nhiên liệu hạt nhân ra ngoài nhưng sự đứt vỡ này vẫn có thể  làm hỏng tất cả mọi hy vọng phục hồi hệ thống làm lạnh. Trong trường  hợp xấu nhất thì toàn bộ lõi của lò phản ứng chứa các thanh nhiên liệu  hạt nhân sẽ phơi bày ra ngoài không khí mà không còn được nước bao bọc  nữa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi đã “phơi” ra ngoài không khí, nhiệt độ của lõi hạt nhân sẽ càng tăng  cao nữa vì không khí không thể giải nhiệt tốt như nước. Đến một lúc nào  đó, nhiệt độ đạt 2865 độ C thì nhân bên trong sẽ bắt đầu bị nóng chảy.  Một trong những hậu quả khác của việc các lõi hạt nhân phơi bày trong  không khí là lớp bảo vệ Zirconium của các thanh nhiên liệu có thể bị  phản ứng với hơi nước, giảm sự nguyên chất của chúng và tạo ra hydro.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;div align="center"&gt;&lt;img alt="" border="0" src="http://photo.tinhte.vn/attach/public_image/btv/3/tinhte.vn_4d85c916a2e08_tinhte.vn_4d85bada488db_boiling-water-reactor-ars.png" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Hình minh họa hơi nước và 1 phần cấu trúc của lò phản ứng&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Người  ta đã sử dụng 2 phương thức để xử lý vấn đề này, đầu tiên là bơm nước  biển vào để giải nhiệt cho hệ thống làm lạnh trong lò. Tuy nhiên, đây là  một điều đặng chẳng đừng vì nước biển sẽ nhanh chóng ăn mòn các kim  loại trong lò, người ta buộc phải thay mới hoàn toàn nếu muốn lò hoạt  động trở lại sau này. Hơn nữa, những thành phần phức tạp của nước biển  cũng rất khó để được tẩy sạch hoàn toàn. Để cẩn thận hơn, nước biển bơm  vào lò không phải là nước biển nguyên chất mà chúng được trộn thêm Boron  nhằm hấp thụ neutron trong lò.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phương pháp thử 2 là cố gắng làm giảm áp lực ra khỏi lò, qua đó giảm  nguy cơ làm lò phát nổ dưới áp suất cao. Tuy vậy, đây cũng là một phương  thức không mong muốn vì lượng hơi nước bị giảm có thể chứa các tác nhân  phóng xạ. Việc rút không khí ra khỏi lò để làm giảm áp ực cũng đồng  thời làm xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên về việc các chất phóng xạ đã  bị thoát ra ngoài. Hydro đồng thời được thoát ra sẽ phản ứng với oxy  ngoài không khí và bùm, vụ nổ xảy ra đã thổi bay nóc tòa nhà chứa lò hạt  nhân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật may mắn khi vụ nổ giữa hydro và oxy đã không ảnh hưởng đến phần bảo  vệ bên trong lò nên phần lớn các nhiên liệu hạt phân vẫn được giữ an  toàn. Tuy nhiên, người ta vẫn phải lo ngại về những vụ nổ khác có thể sẽ  làm hỏng phần bảo vệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vụ nổ cũng đồng thời hé lộ một sự thật đáng sợ: mực nước trong lò đã bị  hạ xuống rất thấp, nếu không thì hydro không thể được tạo ra. Các kỹ sư  cho rằng một phần thanh nhiên liêu đã bắt đầu tan chảy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong trường hợp xấu nhất, toàn bộ khối nhiên liệu bị tan chảy và nó có  thể tiếp xúc với sàn lò phản ứng, đục thủng lớp bảo vệ này nếu đủ nóng  và tiếp tục chảy xuống các tầng bảo vệ tiếp theo. Nếu gặp nước, phần  nhiên liêu tan chảy sẽ tương tác, tạo ra một vụ nổ lớn đi kèm với hơi  nước nhiễm phóng xạ. Vụ nổ và cháy này rất có khả năng sẽ tương tác với  những lò phản ứng hạt nhân gần đó trong trường hợp không ngăn chặn kịp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trường hợp đáng nguy hiểm khác thực ra lại không xảy ra bên trong lò  phản ứng của Nhật Bản mà nó nằm ở khu vực khác, khu vực chứa các thanh  nhiên liệu dự trữ. Người ta cho rằng chính những vụ nổ cũng đồng thời  làm thất thoát một lượng lớn nước dùng để giữ cho các thanh nhiên liệu  mát trong các bể chứa dự trữ. Hệ quả là nhiệt độ của các thanh nhiên  liệu này cũng nhanh chóng tăng lên và cũng có thể gây ra các vụ nổ khác  vì khí hydro được sinh ra tiếp xúc trực tiếp với oxy. Xin hãy nhớ là khu  vực dự trữ các thanh nhiên liệu này không được khép kín hoàn toàn như  các lò phản ứng hạt nhân mà chúng dễ dàng tiếp xúc với không khí. Có lẽ  đây chính là thủ phạm chính của những rò rỉ phóng xạ trong thời gian gần  đây mà không phải là các lò phản ứng hạt nhân. Các chuyên gia và quân  đội Nhật Bản đã có gắng làm mát toàn bộ nhà máy bằng các túi nước thả  xuống từ trực thăng hay các phương tiện cứu hóa truyền thống nhưng hy  vọng thật quá mong manh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt; Tình hình hiện tại:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Trong thời điểm hiện tại thì các nguyên tố phóng xạ có thời gian tồn tại  lâu đều được giữ bên trong 5 lớp bảo vệ an toàn của nhà máy hạt nhân  Fukushima và người ta chủ yếu phát hiện ra các đồng vị phóng xạ có thời  gian tồn tại ngắn vốn là sản phẩm của đợt phân rã thứ 2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù cho một số cơn gió đã mang những đồng vị phóng xạ của Fukushima bay  đi xa nhưng như đã nói ở trên, chúng dễ bị bị phân hủy trong một thời  gian ngắn. Hơn nữa, hầu hết các nguy hiểm chỉ diễn ra ở khu vực nhà máy  và những vùng lân cận nó. Trong một vài thời điểm thì lượng phóng xạ ở  đây đạt mức nguy hiểm nhưng chúng lại nhanh chúng sụt giảm. Hiện tại  chính phủ Nhật Bản đã giới hạn và sơ tán các khu vực này nên cuộc sống  của nhân dân đã bớt nguy hiểm đi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tại thời điểm này thì mọi nỗ lực của các kỹ sư nhà máy Fukushima là nhằm  giữ cho các lò phản ứng hạt nhân nguội đi nhưng nồng độ phóng xạ tăng  quá cao đã làm họ không thể tiếp xúc quá lâu. Dù chỉ làm việc 15 phút  rồi đổi ca nhưng chắc chắn sức khỏe của các kỹ sư sẽ bị ảnh hưởng rất  nhiều trong thời gian sau này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dù vậy, vẫn có 1 tin tốt làm an lòng chúng ta, đó chính là nếu cứ mỗi  ngày trôi qua mà không xảy ra thảm họa, các đồng vị phóng xạ sẽ dần bị  phân hủy và hạ thấp mức độ nguy hiểm của toàn bộ thảm họa này. Dù vậy  thì việc khó tiếp cận với các lò phản ứng cũng gây ra khá nhiều rắc rối.  Hy vọng duy nhất hiện nay nằm ở việc kịp thời đưa nước biển vào các lò  phản ứng và khu nhiên liệu dự trữ để làm nguội chúng. Thật đáng buồn khi  ngày hôm qua thì cơ quan nguyên tử Nhật đã nâng mức độ trầm trọng của  sự việc này lên mức 5, mức nguy hiểm rộng rãi. Chừng nào mà mức nguy  hiểm này vẫn còn nằm ở con số 5 thì chúng ta vẫn còn hy vọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện nguyên tử ở nhà máy Fukushima là một sự kiện độc nhất vô nhị  trong lịch sử thế giới, hết tai nạn này đến tai nạn khác ập đến mà không  ai có thể dữ báo trước được. Toàn bộ các phương án dự phòng bị liên  tiếp bị phá vỡ bởi thiên tai cũng là một điều cần cân nhắc kỹ trong  những nhà máy xây dựng sau này. Điều trớ trêu ở đây lại là Fukushima đã  xây dựng được 40 năm và một trong các lò phản ứng của nó sẽ bắt đầu được  nghỉ hưu ngay từ năm nay. Dù gì đi nữa, Fukushima vẫn chỉ là 1 sự kiện  mang tính cục bộ và hoàn toàn không có khả năng gây ảnh hưởng đến Việt  Nam như những thông tin mưa a xít... như một số người đồn thổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;&lt;b&gt;Tham khảo &lt;a href="http://arstechnica.com/science/news/2011/03/understanding-japans-nuclear-crisis.ars?utm_source=rss&amp;amp;utm_medium=rss&amp;amp;utm_campaign=rss" rel="nofollow" target="_blank"&gt;Ars Technica&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-7745361255177997619?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/7745361255177997619/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=7745361255177997619' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7745361255177997619'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/7745361255177997619'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/03/nhung-ieu-ban-can-biet-ve-tham-hoa-hat.html' title='Những điều bạn cần biết về thảm họa hạt nhân của Nhật Bản'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-2710324061052132274</id><published>2011-03-16T10:54:00.002+07:00</published><updated>2011-03-16T10:54:54.083+07:00</updated><title type='text'>Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị phá sản (*)</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TYAHFNn2WRI/AAAAAAAAJ_Q/zJuej42IXNA/s1600-h/clip_image001%5B5%5D%5B4%5D.jpg"&gt;&lt;img align="left" alt="clip_image001[5]" border="0" height="205" hspace="12" src="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TYAHGNjyiTI/AAAAAAAAJ_U/EGAaqUldbb4/clip_image001%5B5%5D_thumb%5B2%5D.jpg?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: inline; float: left; margin: 0px 15px 0px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="clip_image001[5]" width="144" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Số liệu trong bài dựa trên giá trị đồng đô la Mỹ, tổng hợp từ  BBC. Nợ nước ngoài của chính phủ Việt Nam ở thời điểm đầu 03/ 2011 là 29 tỉ, tức  là hơn 42% so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm. Quốc gia này đang rơi  vào tình trạng thâm thủng kép cả về thương mại và ngân sách chính phủ. Tuy  nhiên, còn có dấu hiệu cho thấy chính phủ Việt Nam có thể đi tới tình trạng vỡ  nợ, nếu diễn dịch theo các số liệu dưới đây.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Dự trữ của chính phủ, tức khoản tiết kiệm, hiện có không tới  50% so với công nợ. Nếu phải trả nợ 29 tỉ đô la ngay vào ngày mai, chính phủ  Việt Nam sẽ không thể có đủ tiền để trả một lần. Nếu có chuyện các chủ nợ kêu  đòi ngay một lúc thì nguồn tài chính của chính phủ sẽ không đủ để thanh khoản.  Điều này có thể không xảy ra nhưng vẫn tiềm ẩn khả năng đó, nói tỉ như nếu có  một sự cố khủng hoảng chính trị kiểu Ai Cập 2011 hay một thảm họa thiên nhiên  nghiêm trọng như trận động đất trong tháng này ở Nhật, hay xuất hiện một mối  hoang mang bất thần trong số các nhà đầu tư và các chủ nợ nước ngoài.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tình hình này có vẻ không khả quan hơn trong thời gian ngắn.  Tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn tiếp diễn và chính phủ cũng dự tính 5% thâm  hụt nữa cho năm tài khóa này. Thâm hụt mậu dịch cũng cho thấy không có dấu hiệu  cải thiện nhanh, trong tháng Hai là gần 1 tỉ. Chính phủ lập kê hoạch hạn chế  tình trạng thâm hụt mậu dịch của năm 2011 là khoảng chừng 18% kim ngạch xuất  khẩu, tức khoảng 14,2 tỉ. Nhưng số này vẫn là tăng nhẹ so với năm 2010.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Do vậy, trong tình thế thâm hụt kép vẫn tiếp diễn, thì việc  tiếp tục vay nợ là điều cần thiết, sau khi đã cân đối với nguồn thu từ đầu tư  trực tiếp ngoại tệ và kiều hối của người Việt hải ngoại. Tuy nhiên, nguồn kiều  hối này sẽ đi thẳng vào túi người dân hơn là vào hầu bao của chính phủ. Người  dân Việt Nam có khoảng vài tỉ đô la giữ làm tài sản bằng các hình thức tiết kiệm  khác nhau, chủ yếu là đô la Mỹ và vàng. Lý do chính là do họ thiếu tin tưởng vào  giá trị của đồng tiền Việt Nam, và vào khả năng chống lạm phát của chính  phủ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Năm 2011, chính phủ cần 4 tỉ để trả lãi suất cho phần nợ nước  ngoài. Khoản này chiếm chừng 12% ngân sách của chính phủ. Càng ngày càng có  nhiều chủ nợ của chính phủ Việt Nam sẽ phải xem chuyện gom nợ dài hạn và khả  năng thu thuế của chính phủ là yếu tố quan trọng để cân nhắc chuyện cho vay  trong tương lai. Trong bối cảnh đó thì các con nợ đặc quyền [nhà nước] có xu  hướng có lợi thế hơn các bộ phận vay mượn phi chính phủ, và như thế điều phân  vân là liệu xảy ra nguy cơ tráo trở (moral hazard) trong hệ thống tài chính quốc  tế hay không?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nếu dự trữ ngoại tệ của chính phủ Việt Nam rớt xuống dưới mức 4  tỉ, là số tiền cần phải trả lãi suất hàng năm, thì điều gì sẽ xảy ra? Nguồn dự  trữ ngoại tệ của chính phủ đã và đang có xu hướng đi xuống từ cuộc khủng hoảng  tài chính bắt đầu ở Việt Nam vào năm 2008, xảy ra trước cả khủng hoảng kinh tế  toàn cầu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Phản ứng của khu vực sẽ như thế nào nếu Việt Nam trở thành một  Iceland hoặc một Hy Lạp của Đông Nam Á?&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiện đang có một động lực để giảm thiếu hụt ngân sách bằng cách  cắt giảm chi tiêu. Việc cắt giảm đã được lên kế hoạch nhưng chỉ giảm chừng được  0,5% so với năm 2010. Còn nhiều việc khác nữa cần phải làm và chính phủ và các  nhà lãnh đạo đảng cần phải tự làm gương cũng như các lãnh đạo các cơ quan của họ  phải đi đầu trong việc này. Vài năm trước, người dân Việt Nam rất lấy làm ấn  tượng, khi có một nhà lãnh đạo chính phủ ngoại quốc rời khỏi Hà Nội bằng một  hãng hàng không giá rẻ. Ngược lại, trong các chuyến thăm cấp quốc gia, các nhà  lãnh đạo Việt Nam lại đem theo cả tùy tùng của mình trên một chuyên cơ đặc biệt  của hãng hàng không quốc gia. Đi lại theo kiểu ít phô trương có lẽ là hữu ích  hơn. Các thí dụ khác về tình trạng lãng phí thì đầy rẫy.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Điều mà chính phủ cần là kiện toàn các phương thức kiểm soát vĩ  mô và ngăn ngừa việc chi tiêu quá mức. Tựu trung là, cần phải ấn định một giới  hạn mức độ thâm hụt mà không một chính phủ nào có quyền thay đổi hoặc chi tiêu  nếu không được 80% đại biểu Quốc hội đồng ý, và Chủ tịch nước cũng phải được cho  phép rà soát ngân sách của chính phủ một cách kỹ càng hơn và được quyền yêu cầu  chính phủ phải có những điều chỉnh bắt buộc theo đúng luật. Chủ tịch nước cũng  cần phải được quyền phủ quyết tình trạng thiếu hụt ngân sách ngay cả khi 80% đại  biếu Quốc hội đồng ý – nếu không đem lại lợi ích gì cho quốc gia. Tiết kiệm có  tính bắt buộc ngân sách hàng năm của chính phủ cần phải trở thành một việc làm  thường quy.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Có lẽ cũng nên thể chế hóa việc kiểm soát các bộ phận có tính  cụ thể. Chẳng hạn như, trong khi các đơn vị như quốc phòng, chăm sóc sức khỏe và  giáo dục không phải là đối tượng để siết chặt, thì ngân sách cho các bộ ngành  khác và các doanh nghiệp nhà nước cần phải được giám sát chặt chẽ và cần phải  đặt trong lộ trình giảm dần ngân sách chi trong vòng 5 năm tới, cho tới khi tình  hình tài chính được cải thiện rõ rệt. Nếu là các doanh nghiệp do nhà nước làm  chủ, trừ khi có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh quốc gia, thì có lẽ  không nên để sống bằng tiền nhà nước bơm vào, mà cần phải giải thể.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một điều nghịch lý, lúc này cũng chính là thời điểm cho các  quốc gia tài trợ cần phải cân nhắc việc cắt giảm viện trợ, dù là dần dần, để gây  áp lực buộc chính phủ này phải đương đầu với những lựa chọn quyết liệt trong vấn  đề dự chi ngân sách để đảm bảo cho Việt Nam sống một cách tự lực. Với tình trạng  tài chính hiện nay, thì câu chuyện phát triển của Việt Nam là không bền vững và  có thể bị sụp đổ.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Nguyên Đình&lt;/b&gt; dịch theo &lt;a href="http://web1.iseas.edu.sg/?p=2786"&gt;đường link giới thiệu của  Viet-Studies&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(*) Tựa đề do người dịch đặt lại. Nguyên văn:  &lt;i&gt;Vietnam&lt;/i&gt;&lt;i&gt;’s poor government&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tác giả David Koh là Chuyên viên cao cấp của Viện nghiên cứu  Đông nam Á&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-2710324061052132274?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/2710324061052132274/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=2710324061052132274' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2710324061052132274'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2710324061052132274'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/03/chinh-phu-viet-nam-co-nguy-co-bi-pha.html' title='Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị phá sản (*)'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TYAHGNjyiTI/AAAAAAAAJ_U/EGAaqUldbb4/s72-c/clip_image001%5B5%5D_thumb%5B2%5D.jpg?imgmax=800' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-745700660797773242</id><published>2011-03-07T11:55:00.000+07:00</published><updated>2011-03-07T11:55:02.002+07:00</updated><title type='text'>Cái gì gây ra lạm phát ở Việt Nam?</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;Tình trạng kinh tế ở Việt Nam được diễn tả trong một bài ca dao  đang phổ biến như sau:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;i&gt;Đau đầu vì điện &lt;br /&gt;Điên đầu vì đô (đô la) &lt;br /&gt;Ngây ngô vì vàng  &lt;br /&gt;Ngỡ ngàng vì đất&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="left"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Điện không biết lúc nào bị cúp; ngay một khách sạn quốc tế ở  giữa thủ đô cái máy pha cà phê cũng ngưng chạy vì cúp điện. Giá đô la Mỹ trên  thị trường chợ đen lúc nào cũng chạy vọt lên nhanh hơn giá do nhà nước chính  thức quy định. Nhà nước vừa mới phá giá đồng tiền Việt Nam xuống thêm hơn 8%,  phá giá lần thứ ba trong vòng 12 tháng. Đây là lần phá giá tiền thứ sáu kể từ  hai năm rưỡi nay; nhưng vẫn như các lần trước, giá chính thức vừa được công bố  thì giá mua đô la trong các cửa hàng vàng Hà Nội đã vươn lên qua mặt nữa  rồi.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vì dân chúng không tin tưởng vào đồng tiền, những người có tiền  trong tay tìm cách tống khứ cái khuôn mặt in trên đó đi càng nhanh càng tốt,  bằng cách đổi lấy đô la Mỹ hay mua vàng. Vàng thì nặng, khó giữ và khó chuyển ra  ngoài, cho nên giới quan chức lớn và doanh nhân có tiền thật đều tích trữ đô la.  Tại sao người ta chuộng những tờ giấy 100 đô la mới, sẵn sàng trả giá cao hơn?  Vì khi đem hối lộ, được hoan nghênh hơn! Quí quan cũng biết rằng đem đô la đi  lại nó nhẹ nhàng hơn vàng nhiều.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong khi giới có quyền và có tiền điên đầu vì đô la và vàng,  thì những nông dân lại “ngỡ ngàng vì đất”. Đồng bào tỉnh Hà Nam đã kéo nhau lên  tận Hà Nội biểu tình đòi đền bù đất xứng đáng, nhưng chưa ai tổ chức tập hợp  được tất cả các đoàn nông dân mất đất cùng đi khiếu kiện một lúc!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Sau phần “Ngỡ ngàng vì đất” bài ca dao đọc tiếp:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;Ngất vì tỷ giá &lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;Ngã vì lãi suất&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;Uất vì giá xăng&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cả ba hiện tượng: Tỷ giá đô la so với đồng tiền Việt Nam, lãi  suất, và giá xăng quy tụ vào một điểm là “lạm phát phi mã”. Trong tuần rồi, giá  xăng đã tăng vọt lên hơn 17%, gần 20.000 đồng một lít; và giá diesel tăng 24%,  lên hơn 18.000 đồng. Giá xăng lên là một phần trong cảnh vật giá leo thang, tức  là lạm phát. Ngày 25 tháng Hai vừa rồi, nhật báo &lt;i&gt;Wall Street Á Châu&lt;/i&gt; loan  tin đặc biệt về lạm phát ở Việt Nam, cho biết tỷ lệ giá sinh hoạt (CPI) tăng là  12,31%; nhắc nhở rằng đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất ở Á châu. Hai món chính  tăng giá là thực phẩm và nhà cửa, trong đó có giá vật liệu xây cất. Đó là hai  nhu cầu thiết yếu của dân, đặc biệt là dân nghèo thì hầu hết đồng tiền kiếm được  chỉ đổ vào chuyện ăn với ở!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng không ai tin rằng mức lạm phát sẽ dừng chân ở vị trí 12%.  “Ngất vì tỷ giá” là một lý do. Đồng đô la Mỹ lên giá sẽ thúc lạm phát lên cao  nữa. Vì mọi thứ hàng nhập cảng, khi mua phải trả bằng đô la, sẽ đắt hơn khi tính  ra tiền Việt Nam. Ngoài ra, còn “Uất vì giá xăng”. Giá xăng dầu vừa mới lên sẽ  khiến cho tất cả những thứ hàng hóa và dịch vụ cần dùng đến xăng dầu phải tăng  giá theo (có món nào không cần chuyên chở bằng xe tàu chạy xăng không?). Riêng  hai thứ đô la và xăng thôi cũng đủ khiến cho giá cả nhiều món hàng bắt buộc tăng  giá trong thời gian tới. Cho nên nhà kinh tế Matt Hildebrandt thuộc công ty tài  chính JP Morgan đoán rằng trong mấy tháng tới tỷ lệ lạm phát ở nước ta sẽ lên  14%, và giữ mức đó cho cả năm 2011. Nhiều người lo ngại lạm phát sẽ lên tới 15%.  Trong khi đó, nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn không thay đổi chỉ tiêu của họ là  giữ lạm phát ở mức 7% cho năm nay. Đúng là họ sống trong một thế giới ảo, khác  đám chúng sinh đang đi lại ở ngoài đường.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trước tình hình lạm phát đe dọa đó, dân đang “Ngã vì lãi suất”  vì Ngân hàng Nhà nước phải cho tăng lãi suất nhiều lần để giảm bớt số lượng tiền  lưu hành. Như nhận xét của tiến sĩ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng Tư vấn  Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia, trong một bài đăng trên mạng lưới của nhà  nước, Việt Nam đang lâm vào một thế bí, là phải lo chống lạm phát trong lúc lãi  suất đang rất cao. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Bình thường, khi muốn ngăn chặn lạm phát thì người ta phải tăng  lãi suất. Lãi suất tăng sẽ khiến dân bớt tiêu thụ đi và các xí nghiệp cũng bớt  đầu tư; do đó số cầu giảm và giá cả các món hàng sẽ hạ bớt. Nhưng khi lãi suất  đã cao lắm rồi, thì khó ai dám tăng lãi suất nữa. Tức là Ngân hàng Nhà nước mất  một thứ dụng cụ để giảm bớt lạm phát. Cho nên ông Trần Du Lịch nói thẳng về viễn  tượng kinh tế Việt Nam: “Qua 2 tháng đầu năm 2011, có thể thấy tình hình kinh tế  vĩ mô gặp khó khăn hơn năm 2010 và nghiêm trọng hơn chúng ta dự đoán”. Cho đăng  những nhận xét của ông trên mạng lưới nhà nước, cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam  muốn báo trước cho toàn thể mọi người biết cả nước sắp vất vả! Mặt khác, họ cũng  muốn chối tội về những biện pháp mới thi hành: tăng giá xăng và phá giá đồng  bạc. Bởi vì, đó chính là những điều mà tiến sĩ Trần Du Lịch đưa ra đề nghị phải  làm ngay “cả gói!”. Nếu dân phải chịu khổ, hãy trút tội lên các chuyên gia kinh  tế đưa ý kiến, đừng buộc tội Đảng và Nhà nước!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhưng cuối cùng, chính Nhà nước và Đảng Cộng sản đã gây ra cái  cảnh lạm phát phi mã hiện nay, không thể nào đổ tội cho ai được!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Cái tội chính đã được ghi trong cương lĩnh, chính sách của  những kỳ Đại hội Đảng từ mấy lần rồi. Đó là “Lấy kinh tế quốc doanh làm chủ  đạo”.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Tại sao có lạm phát? Vì tiền đổ ra nhiều quá mà sức sản xuất  hàng hóa không tăng theo kịp. Tại sao lại đổ ra nhiều tiền như vậy? Vì các ngân  hàng của nhà nước đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước tha hồ tiêu xài. Trong năm  2010, số tiền do các ngân hàng cho vay đã tăng thêm 28%, lên tới con số vay nợ  lớn bằng 140% Tổng sản lượng nội địa (GDP). Nên biết, năm 1997, ngay trước khi  Thái Lan bị khủng hoảng tài chánh, tổng số nợ của họ cũng chỉ lớn bằng 130% GDP!  Hiện nay mỗi năm Việt Nam phải dùng 30% của Tổng sản lượng nội địa chỉ để trả  tiền lãi và trả góp vốn các món nợ vay của người nước ngoài. Tại sao cần nhiều  tiền đến như vậy? Vì có khi nhà nước đứng ra vay đô la từ nước ngoài, tức là đem  tài sản cả nước ra làm vật thế chấp, rồi đưa tiền đó cho doanh nghiệp nhà nước  sử dụng. Đó là câu chuyện Vinashin đi vay 750 triệu đô la, ai cũng biết.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Những doanh nghiệp nhà nuớc làm ăn thế bết bát thế nào ai cũng  biết. Nhưng chính sách của Đảng Cộng sản vẫn là đem tiền của toàn dân cho các  cán bộ kinh tế của đảng tha hồ tiêu pha lãng phí. Tiến sĩ Nguyễn Quang A năm  ngoái đã viết một bài phân tích tường tận về cái lỗ thủng khổng lồ, cái thùng  không đáy là các doanh nghiệp nhà nuớc.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Hiện nay cán cân mậu dịch của Việt Nam bị thâm thủng trên một  tỷ đô la mỗi tháng. Trong các nước Đông Nam Á, nước nào mua bán với Trung Quốc  cũng thặng dư, tức là bán nhiều hơn mua; trừ Việt Nam là chịu thâm thủng, tiền  ra nhiều hơn tiền vào! Ai gây ra cái nạn thâm thủng đó? Ông Nguyễn Quang A tính  có 3 lãnh vực, các công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam thì bao giờ cũng đem  tiền vào Việt Nam nhiều hơn là đem ra. Các xí nghiệp tư nhân trong nước thường  cũng như vậy, ít nhất là không bị thâm thủng. Chính các doanh nghiệp nhà nước là  nguồn gốc gây ra cảnh thâm thủng!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Các doanh nghiệp nhà nuớc được chính quyền ưu đãi, hưởng chế độ  ưu đãi khi đi vay tiền của các ngân hàng, cũng do cán bộ điều khiển. Nhưng nó  lại đóng góp rất ít vào kinh tế quốc dân. Ông Nguyễn Quang A cho biết, “số lao  động làm việc trong doanh nghiệp tư nhân trong nước đã tăng hơn 3 lần trong  những năm 2000-2006, từ hơn 1 triệu lên hơn 3 triệu người. Tương tự, số lao động  làm việc trong các doanh nghiệp FDI (ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam) đã tăng hơn 3  lần, từ hơn 407 ngàn người năm 2000 đã tăng lên hơn 1,4 triệu người năm 2006. Số  lao động làm việc trong các DNNN chỉ còn chiếm 28% tổng số lao động trong doanh  nghiệp; giảm hơn một nửa (59,1%) so với năm 2000”.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Còn phần đóng góp của các doanh nghiệp nhà nuớc vào ngân sách  quốc gia thì sao? Tiến sĩ Nguyễn Quang A ghi nhận các doanh nghiệp nhà nước chỉ  góp trên 10% vào tổng số thu của nhà nước, còn 88,65% là do các doanh nghiệp  khác, tư nhân trong nước và nước ngoài đóng góp!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Với những thành tích của các doanh nghiệp nhà nuớc như thế,  Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc! Họ đem tiền của dân  cho đám cán bộ sử dụng dù không có hiệu quả. Vì đó doanh nghiệp nhà nuớc là nơi  họ nuôi các cán bộ đảng!&amp;nbsp;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chi tiền nhiều quá, sinh lạm phát, thì toàn dân phải chịu!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Theo&lt;i&gt;&lt;b&gt; Ngô Nhân Dụng &lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-745700660797773242?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/745700660797773242/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=745700660797773242' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/745700660797773242'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/745700660797773242'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/03/cai-gi-gay-ra-lam-phat-o-viet-nam.html' title='Cái gì gây ra lạm phát ở Việt Nam?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-2161151206162746762</id><published>2011-03-04T01:28:00.000+07:00</published><updated>2011-03-04T01:28:25.910+07:00</updated><title type='text'>Nghiên cứu động cơ để hiểu bản chất hành động, bản chất con người</title><content type='html'>&lt;h3 class="post-title entry-title"&gt;&lt;a href="http://boxitvn.blogspot.com/2011/03/nghien-cuu-ong-co-e-hieu-ban-chat-hanh.html"&gt;&lt;/a&gt; &lt;/h3&gt;&lt;div class="post-body entry-content"&gt; &lt;table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="margin-left: auto; margin-right: auto; width: auto;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td style="text-align: left; vertical-align: top;"&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;Mạc Văn Trang&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;PGS TS Tâm lý học&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;1. Vấn đề cấp thiết&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;a href="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TW78Q0mltUI/AAAAAAAAJl0/XclbjiqPtKE/s1600-h/image%5B2%5D.png"&gt;&lt;img align="left" alt="image" border="0" height="240" src="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TW78SWwDZwI/AAAAAAAAJl8/fG9ej4yPtS8/image_thumb.png?imgmax=800" style="background-image: none; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; display: inline; float: left; margin: 0px 15px 0px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; padding-top: 0px;" title="image" width="202" /&gt;&lt;/a&gt;Lâu nay nghiên cứu động cơ trong Tâm lý học ở nước ta  chủ yếu trên bình diện lý thuyết; những nghiên cứu thực tiễn còn rất ít và  thường bó hẹp vào một vài đề tài về động cơ học tập, chọn nghề của học sinh,  sinh viên. Trong khi cuộc sống hiện nay đặt ra rất nhiều vấn đề đòì hỏi cần  nghiên cứu, lý giải nhiều loại hành động bất thường tăng nhanh trong đời sống xã  hội: bỏ học, bỏ việc, bỏ nhà, ly hôn, bạo hành, tự tử, cưỡng dâm, giết người,  tham nhũng &lt;sup&gt;(1)&lt;/sup&gt;… và rất nhiều tấm gương thành đạt trên mọi lĩnh vực  hoạt động. Trên bình diện tâm lý xã hội hay tâm lý cá nhân, nguyên nhân dẫn đến  những hành động bất thường, những thành công đó, hẳn là một quá trình diễn biến  phức tạp, có nguyên nhân tâm lý sâu xa từ động cơ. Hơn 2500 năm trước Khổng Tử,  nhà tư tưởng lớn phương Đông từng viết: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Này, Dịch là cái thánh nhân dùng  để đến chỗ cùng sâu mà nghiên cứu động cơ vậy. Chỉ có sâu mới thông được cái chí  của thiên hạ; duy có động cơ mới làm nên việc lớn trong thiên hạ&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”. Ông  cho rằng: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân một sớm một  chiều&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;…” Trong đó động cơ là cái quyết định: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Động cơ là chỗ vi  diệu nhất của mọi hành động, là sự hiện ra trước của mọi điềm lành dữ  vậy&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;”&lt;sup&gt;(2)&lt;/sup&gt; (Có lẽ người Trung Hoa đã luôn quán triệt điều đó và  không ngừng nuôi dưỡng từ bao đời cái động cơ bá chủ thiên hạ…). Động cơ là cái  “cùng sâu” và “vi diệu” vô cùng phức tạp, có thể nguỵ trang, biến đổi trường  diễn, cách tiếp cận và kỹ thuật trắc nghiệm khó khăn, tác động cải biến càng khó  khăn hơn, nên những đề tài ngắn hạn ít dám nghiên cứu. Nhưng không lẽ một vấn đề  cơ bản, quan trọng và cấp thiết lại bị né tránh? Chắc rằng một khi quyết đi sâu  nghiên cứu thì sẽ tìm ra những phương pháp, kỹ thuật phù hợp, có thể tin  cậy.&lt;/div&gt;&lt;a href="" name="more"&gt;&lt;/a&gt; &lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;2. Về một số hướng nghiên cứu động cơ&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Một vài đề tài nghiên cứu động cơ gần đây thường điểm lại các  lý thuyết, rồi sau đó đã chọn lý thuyết không phù hợp lắm với tính chất của đối  tượng nghiên cứu, nên khi tiến hành điều tra và phân tích kết quả thu được  thường lúng túng, ít thuyết phục. Có khá nhiều lý thuyết về động cơ. Mỗi lý  thuyết đều xuất phát từ những kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu riêng trong từng  lĩnh vực chuyên sâu của mỗi tác giả; đồng thời mỗi tác giả thường cố gắng chứng  tỏ thuyết của mình khác với những thuyết đã có, nên mỗi lý thuyết đều ít nhiều  có tính cực đoan, phiến diện... Do vậy khi nghiên cứu thực tiễn về loại động cơ  nào đó, nên chọn một lý thuyết chủ đạo, đồng thời không nên tuyệt đối hoá, mà  cần vận dụng các lý thuyết khác để lý giải nhiều khía cạnh phức tạp của động cơ  trong đời sống thực.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chẳng hạn, khi nghiên cứu về động cơ học tập, nghiên cứu khoa  học, sáng tạo nghệ thuật, nghề nghiệp… nên lựa chọn cách phân tích động cơ theo  lý thuyết hoạt động của A. N. Leonchiep về động cơ &lt;b&gt;&lt;i&gt;đối tượng&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; và  động cơ &lt;b&gt;&lt;i&gt;kích thích&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; (ngoài đối tượng)&lt;sup&gt;(3)&lt;/sup&gt;. Theo lý thuyết  này, đặc trưng hoạt động của con người là chủ thể tích cực hướng vào đối tượng,  chiếm lĩnh, cải biến đối tượng… Cái thúc đẩy con người say sưa hoạt động hướng  vào đối tượng chính là động cơ đối tượng hay động cơ&lt;i&gt; tạo ý nhân cách&lt;/i&gt;. Khi  chủ thể xa rời đối tượng, không còn say mê hướng về đối tượng để hoạt động, hoặc  “tích cực” vì những kích thích bên ngoài đối tượng (thưởng, phạt, thành tích  hão…) thì sớm muộn nhân cách (chủ thể) sẽ xa rời đối tượng, tha hoá khỏi đối  tượng, sự “tích cực” chỉ là hình thức, giả dối (với đối tượng)… Học sinh, sinh  viên,, nghiên cứu sinh học vì điểm, vì bằng cấp, vì thi đua hão huyền… chứ không  vì say sưa chiếm lĩnh đối tượng để làm phong phú, phát triển chính bản thân mình  và sáng tạo mới cho xã hội thì họ sẵn sàng xin điểm, mua bằng, dùng các thủ đoạn  để đạt được cái họ cần. Như vậy thì còn đâu là chất lượng giáo dục thật sự!  Người nghệ sĩ, nhà khoa học cũng vậy, khi ngày càng xa rời đối tượng, thì họ chỉ  còn là cái vỏ không hồn! Tình yêu nam - nữ càng như vậy. Họ yêu những gì ở ngoài  người mình yêu thì sao còn là tình yêu đích thực? Ta vẫn thấy có bao nhiêu Tiến  sĩ dởm, bao nhiêu chàng trai, cô gái bị lừa tình, bao nhiêu nghệ sĩ, nhà khoa  học hữu danh, vô thực … Đó là vì người ta chỉ chú ý đến những gì kích thích họ,  ở ngoài đối tượng; khi những kích thích đó mất đi hoặc bão hoà thì động cơ cũng  hết hiệu lực. Trong khi đó, người sinh viên, nghệ sĩ, nhà khoa học… say mê đối  tượng thì… có hai cuộc đời vẫn chưa đủ! Ngô Bảo Châu sau hơn hai thập niên say  mê, hết mình với Toán học, đạt đến một đỉnh cao và được ghi nhận bằng giải  thưởng FIELDS danh giá, đã nói: “&lt;i&gt;Từ trải nghiệm làm việc ở Pháp cũng như ở Mỹ  tôi hiểu ra rằng môi trường học tập lành mạnh là điều kiện tiên quyết cho sự  trưởng thành của những nhà khoa học trẻ. Môi trường khoa học lành mạnh chính là  nơi học thuật và đạo đức trong học thuật được luôn xếp ở vị trí đầu tiên cùng  với sự bình đẳng trong các nhà khoa học không phân biệt già trẻ cũng như sự tự  do tuyệt đối trong nghiên cứu khoa học”.&lt;/i&gt;&lt;sup&gt;(4)&lt;/sup&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Say mê khám phá đối tượng, chinh phục đối tượng và bị đối tượng  chinh phục; chủ thể “bị đối tượng hoá” và đối tượng “bị chủ thể hoá”, biến đổi  dưới tác động của chủ thể, cũng là quá trình hình thành, phát triển động cơ.  Động cơ như vậy mang hàm ý nhân cách; hệ thống các hoạt động sẽ tạo nên hệ thống  thứ bậc động cơ, trong đó có động cơ ưu thế, trở thành cốt lõi của nhân cách một  cách bền vững. Những động cơ khác sẽ bị điều tiết bởi động cơ ưu thế. Từ đó có  thể xuất hiện những nhân cách lớn, những nhà khoa học, nghệ sĩ lớn… Học sinh,  sinh viên say mê học tập các môn học và tìm thấy cốt lõi nhân cách của họ hình  thành từ đó (chứ không phải bởi những thứ thi đua tào lao, thành tích hão  huyền); nhân cách nghề nghiệp của mỗi người hành nghề được đánh giá từ động cơ  nghề nghiệp gắn liền với đối tượng lao động, với sản phẩm họ làm ra… Hiểu động  cơ như vậy là hiểu được cốt lõi nhân cách nghề nghiệp cũng như sự tha hoá nhân  cách nghề nghiệp hiện nay đang diễn ra khá đa dạng, ở nhiều cấp độ. Những điều  phân tích trên phù hợp với nhận xét thẳng thắn của Ngô Bảo Châu: …“&lt;i&gt;Trong hầu  hết các gia đình Việt Nam, việc học hành vẫn được coi là quan trọng nhất nhưng  tình yêu trí thức, yêu khoa học trong suy nghĩ chủ quan của tôi, vẫn là sự hiếm  hoi”.&lt;/i&gt;&lt;sup&gt;(5)&lt;/sup&gt; Nói cách khác, học không vì “tình yêu tri thức, yêu khoa  học” mà vì những cái ở ngoài nó thì làm sao có được “động cơ đối tượng” đích  thực, bền vững!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Lý thuyết động cơ của L.I. Bozhovic và một số người lại chú ý  phân loại động cơ: “&lt;b&gt;&lt;i&gt;vì cá nhân &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;hay&lt;i&gt; &lt;b&gt;vì xã hội&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;b&gt;”&lt;/b&gt;  (ích kỷ hay vị tha) chiếm ưu thế. Lý thuyết này cũng đã có một số nghiên cứu  thực nghiệm có kết quả ở học sinh&lt;sup&gt;(6)&lt;/sup&gt;. Đối với những học sinh, thanh  niên tình nguyên vì cộng đồng, đặc biệt với những người lãnh đạo tập thể, cộng  đồng, xã hội nếu không có động cơ xã hội ưu thế sẽ không thể thành công. Làm  lãnh đạo mà coi trọng lợi ích của bản thân, gia đình, êkip… hơn lợi ích của cộng  đồng, xã hội thì sớm muộn cũng tha hoá, không thể giữ vai trò lãnh đạo được. Học  tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, cơ bản nhất là học tập động cơ phục vụ nhân  dân, phục vụ xã hội, phục vụ nhân loại của ông. Ông yêu cầu cán bộ, đảng viên  phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đồng thời phải “hết lòng, hết sức phục vụ  nhân dân”. Động cơ “vì dân phục vụ” luôn quán triệt trong toàn bộ tư tưởng và  cuộc sống của ông. “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho  dân phải hết sức tránh” là thước đo động cơ của người lãnh đạo từ cơ sở đến  trung ương. Hồ Chí Minh cũng coi động cơ “vì dân” là cốt lõi của nhân cách người  cán bộ, người lãnh đạo. Xa rời động cơ đó cũng có nghĩa là sẽ hư hỏng, thoái  hoá, biến chất, không còn là người cán bộ, người lãnh đạo của nhân  dân&lt;sup&gt;(7)&lt;/sup&gt;… &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nghiên cứu động cơ lãnh đạo còn cần chú ý cách phân loại động  cơ của B. Ph. Lômov về động cơ &lt;b&gt;&lt;i&gt;gần&lt;/i&gt; &lt;/b&gt;và động cơ &lt;b&gt;&lt;i&gt;xa.&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;  Người lãnh đạo, trên cơ sở “vì dân”, còn đòi hỏi có tầm nhìn xa, trông rộng, có  khát vọng, nung nấu ý chí đưa nhân dân, đất nước đến giàu, mạnh, hạnh phúc,  “sánh vai cường quốc năm châu”… Những kẻ thiển cận, “ăn xổi, ở thì”, cốt vơ vét  cho đầy túi tham, hết nhiệm kỳ rồi chuồn êm… mà lãnh đạo thì nguy hại cho dân,  cho nước! Động cơ xa mà đúng đắn, chủ đạo thì những động cơ gần, trong những  việc làm cụ thể tưởng như tản mạn, nhỏ bé nhưng đều nhất quán, quy về một hướng,  tránh được tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, các chính sách “đá lộn  nhau”, “nói một đằng, làm một nẻo”… Tất nhiên động cơ xa có giá trị như thế nào  còn phụ thuộc vào cái tầm của nhân cách, và đó chính là một đòi hỏi cơ bản đối  với nhân cách người lãnh đạo.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trong khi đó, đối với người sử dụng lao động, quản trị nhân sự  lại cần quan tâm đến những nhu cầu, động cơ, thái độ của người lao động theo lý  thuyết &lt;i&gt;thứ bậc nhu cầu&lt;/i&gt; của A. Masslow và một số người khác&lt;sup&gt;(8)&lt;/sup&gt;.  Tức là phải quan tâm đến hệ thống nhu cầu sống của người lao động: từ ăn, ở, an  toàn, vệ sinh, đối xử đến tiền lương thưởng và những nhu cầu xã hội, nhu cầu  tinh thần. Trên cơ sở đó mới tạo ra động cơ gắn bó với công việc, lao động tích  cực sáng tạo. Người lao động phải nhận những đồng lương chết đói, đời sống vật  chất khốn khó, đời sống tinh thần nghèo nàn, quản lý, lãnh đạo quan liêu, hách  dịch, đối xử bất công… thì mong gì có lao động năng suất cao, chất lượng tốt… Và  những hiện tượng lãn công, đình công, xung đột, bỏ việc… là chuyện tất yếu…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;S. Freud và một số người lại đi sâu nghiên cứu động cơ  &lt;i&gt;nguyên nhân &lt;/i&gt;và&lt;i&gt; động cơ mục tiêu&lt;/i&gt; (cứu cánh)&lt;sup&gt;(9)&lt;/sup&gt;. Cách  phân loại này phù hợp hơn với việc nghiên cứu những hành vi lệch chuẩn, bất  thường. Chẳng hạn nhiều người có hành vi lệch chuẩn bị thúc đẩy bởi những động  cơ từ nguyên nhân sâu xa do rối nhiễu tâm lý, nhân cách; do thúc đẩy của các  loại bản năng; do những trải nghiệm tâm lý: ẩn ức, mặc cảm, xung động, thèm muốn  … bị ức chế, chèn ép, dồn nén, xô đẩy, chìm sâu vào “cái lò” của vô thức, chờ có  dịp là bùng phát dữ dội, ở cả cá nhân, nhóm hay đám đông, khó kiểm soát được. Có  những nguyên nhân sâu xa từ quá khứ, từ thơ bé… đến lúc trưởng thành mới “phát  ra” nên nhiều khi phải trò chuyện tự do, phỏng vấn sâu, tìm hiểu quá trình lịch  sử… mới phát hiện ra động cơ nguyên nhân. Một em bé thấy con hàng xóm được ăn  ngon, mặc đẹp, thừa thãi đồ chơi, đi ô tô đến trường, còn nó sống trong nghèo  đói, thèm khát những thứ tối thiểu; một học sinh thấy cô giáo yêu chiều con nhà  giàu và coi khinh nó nghèo; một thiếu niên nằm chung giường bệnh với ba bốn  người cùng cảnh ngộ, bị hắt hủi, nhìn sang phòng “dịch vụ chất lượng cao” thấy  một “cậu ấm” nằm mình một phòng có điều hoà nhiệt độ và các bác sĩ tíu tít quan  tâm… Tất cả đều gây ra những trải nghiệm tủi hờn, ấm ức… về sự bất công, phi lý.  Những học sinh, sinh viên được giáo dục về bình đẳng, tự do, công lý… nhưng nhìn  vào thực tế xã hội lại thấy có “hai pháp luật”, “hai, ba thứ đạo đức”… gây cho  họ những trải nghiệm tâm lý khó chịu, bực tức, bất bình… Những người nông dân  sau khi bán đất như “bèo” cho các dự án, rồi thấy người ta biến nó thành “tấc  đất, tấc vàng”; họ trở thành những ông bà chủ giàu sang, xe hơi nhà lầu; người  nông dân mất đất lại thành cu li đi làm thuê, vợ con thành “ô -sin”, hầu hạ  những kẻ vừa trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt ruộng vườn của mình… Tất cả đều  trải qua những xung động bất mãn, buồn bực, tức tối… Càng nhìn, càng ngẫm càng  thấy cay đắng, xót xa, uất hận… Đó là nguyên nhân sâu xa cho những động cơ bột  phát những hành động bùng nổ khó lường, nhất là hành động của những đám đông  phấn khích. Một khi đa số người dân trong cộng đồng, xã hội cảm thấy bất mãn vì  sự bất công, bất bình đẳng, bị thua thiệt, phi lý… là những trải nghiệm cảm xúc  tiêu cực, tích tụ trở thành tâm trạng nặng nề, một trạng thái tâm lý xã hội căng  thẳng, tiềm tàng nguy cơ bất ổn… Động cơ ở đây bao gồm một phức cảm tổng hợp,  khó lý giải, thường thúc đẩy hành động bột phát, nhiều khi ý thức không kiểm  soát được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Việc phân biệt động cơ &lt;b&gt;&lt;i&gt;nguyên nhân&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; và động cơ  &lt;b&gt;&lt;i&gt;mục tiêu&lt;/i&gt;&lt;/b&gt; rất có ý nghĩa khi xem xét hai hành động tưởng như giống  nhau nhưng thực ra khác nhau căn bản về bản chất tâm lý. Chẳng hạn vụ án Phan  Minh Mẫn giết cha ở TP Hồ Chí Minh (19/11/2009) và Nghiêm Viết Thành giết cha ở  TP Hải Dương (6/5/2009), cùng bị Toà án tuyên tử hình. Nhưng việc tử hình Mẫn  làm nhiều người trăn trở, vì người cha của Mẫn rất tàn ác, gây bao đau thương  cho cả gia đình. Người con trai đã chịu đựng, chất chứa, dồn nén, tích tụ bao  đau đớn, xấu hổ, tủi nhục, căm giận… đối với người cha độc ác. Hành động giết  cha ấy có nguyên nhân sâu xa là trả thù, trừng trị cái ác để giải thoát cho mọi  người và bản thân. Nếu người cha độc ác ấy bị xã hội sớm trừng phạt, cho đi tù,  thì người con đã có thể đến chăm sóc cha, thương cha hơn, chứ không phải ra tay  giết cha! Cái ác đã không bị trừng phạt nên đẻ ra những cái ác khác! Còn vụ giết  cha của Thành thì khác, nếu người cha tiếp tục cung cấp tiền cho hắn ăn chơi thì  cha vẫn “tốt”… Những kẻ giết người chỉ bởi mục tiêu phương tiện, lại phải tìm  nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự tha hoá, sa đoạ ở chúng&lt;sup&gt;(10)&lt;/sup&gt;… &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Thuyết hành vi&lt;sup&gt;(11)&lt;/sup&gt; cũng cho thấy loại &lt;i&gt;động cơ  thực dụng&lt;/i&gt;: cứ có tiền là làm, bất kể việc gì, chẳng có việc “tốt” và “xấu”,  chỉ có việc nhiều tiền và ít tiền… Từ đó hình thành nên triết lý sống: tiền là  trên hết, là sức mạnh toàn năng. Người ta lao vào kiếm tiền bằng mọi giá, bán cả  thân xác lẫn linh hồn cho kẻ có tiền. Một lối sống như thế sẽ dẫn xã hội đến chỗ  mọi cái đều ngã giá, mua bán: bằng cấp, chức tước, quan hệ, danh vị, sinh mạng…  rồi cả Tổ quốc! Tính Người sẽ ngày một tha hoá. Ta đã thấy nhiều vụ đâm thuê,  chém mướn ghê rợn, những kẻ thủ ác mất hết tính người: chúng nhận tiền tạm ứng,  bảo đến chém chết người kia, chém xong, lĩnh tiền thưởng và đi nhậu nhẹt… Chúng  tiến hành tội ác như một trò chơi, không cần biết người bị giết là ai, hoàn cảnh  thế nào, tốt xấu ra sao!&lt;sup&gt;(12)&lt;/sup&gt;... Trong các băng đảng xã hội đen luôn  có bọn tay chân ngu tín, mất hết tính người như vậy. Chúng chỉ biết phục tùng,  trung thành mù quáng đối với người ra lệnh, bất chấp tình người, đạo lý, pháp  luật! Chúng luôn viện lý rằng, chúng chỉ làm theo lệnh, người ra lệnh sẽ chịu  trách nhiệm. Bọn người này vô cùng nguy hiểm cho xã hội. Họ chỉ có thể được thức  tỉnh khi ý thức rõ về hành động tội ác, biết tự phân tích, đấu tranh động cơ,  lương tâm hồi tỉnh …&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Vấn đề nghiên cứu &lt;i&gt;động cơ chính trị, động cơ trong hoạt động  đối ngoại&lt;/i&gt; hết sức quan trọng, nhưng cả về lý thuyết cũng như thực tế, không  biết ở ta đã và đang được tiến hành ở mức nào. Bản thân tôi chưa được tiếp xúc  với công trình nghiên cứu chính thống nào về vấn đề này. Gần đây được đọc một  vài tài liệu mới thực sự hiểu ra một số hành động của các nhà lãnh đạo Trung  Quốc đối với Việt Nam mà từ trước vẫn mơ hồ. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Nhớ lại, sau Hiệp định Genève 1954, hòa bình lập lại ở Việt  Nam, bọn thanh thiếu niên chúng tôi suốt ngày múa hát “thắm thiết tình Việt –  Trung - Xô”, cứ tưởng Trung Quốc với mình là anh em, đồng chí, hết lòng ủng hộ  cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của Việt Nam … Đến khi đọc lời giới thiệu  cuốn&lt;i&gt; “&lt;b&gt;Trung &lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;Q&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;uốc và việc giải quyết cuộc xung  đột lần thứ nhất ở Đông D&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;ương’’&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt; &lt;/i&gt;do Francois Joyaux,  một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung Quốc  biên soạn, được hoàn thành vào tháng 3 năm 1979,&lt;i&gt; &lt;/i&gt;&lt;i&gt;“&lt;/i&gt;&lt;i&gt;đúng vào thời  điểm tập đoàn phản động Bắc K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên  giới phía bắc nước ta”&lt;/i&gt;&lt;i&gt;. &lt;/i&gt;Cuốn sách này được Nhà xuất bản Thông tin lý  luận dịch, xuất bản vào tháng 3 năm 1981. Chỉ đọc lời giới thiệu cuốn sách trên  &lt;i&gt;&lt;u&gt;blog anhbasam&lt;/u&gt;&lt;/i&gt; ngày 31/12/2010 đã thấy rõ: Trung Quốc&lt;i&gt; &lt;/i&gt;“đi  đêm” với Pháp và Mỹ để ép Việt Nam phải ngừng bắn, lập lại hòa bình ở Đông Dương  theo kịch bản của Trung Quốc. Vì&lt;i&gt; “…&lt;/i&gt;&lt;i&gt;việc tiến hành thương lượng về Đông  D&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc: làm  dịu tình hình căng thẳng ở Viễn –đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế ở  Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông  D&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ương, tạo khả năng cho Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc chấm dứt được sự bài xích của  phương Tây, chứng tỏ Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới  và tạo cơ hội cho Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với  phương Tây”. &lt;/i&gt;Trung Quốc còn vì nhiều mục tiêu khác:&lt;i&gt; “…&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Trung  Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài, Việt Nam, tán thành sự tồn tại  của phía nam Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh  đã hạn chế các yêu sách của Việt&lt;/i&gt;&lt;i&gt; Minh ở hội nghị Giơnevơ, đặc biệt đã gây  sức ép với Việt N&lt;/i&gt;&lt;i&gt;am dân chủ cộng hoà phải giảm bớt “tham vọng” đối với  miền nam Việt N&lt;/i&gt;&lt;i&gt;am và đối với các nước khác ở Đông D&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ương, để tạo  nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt N&lt;/i&gt;&lt;i&gt;am và cả trên bán đảo Đông  D&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ương. Ý đồ của Bắc K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh còn ở chỗ là “bị cắt mất vùng lúa gạo  thừa thãi ở Nam K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc để  bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu”…;&lt;/i&gt;&lt;i&gt; “&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Chiến lược của Bắc  K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh rõ ràng là muốn Đông D&lt;/i&gt;&lt;i&gt;ương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ ,”đa  dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung Q&lt;/i&gt;&lt;i&gt;uốc chi phối và buộc phải đi theo  quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh. Cho nên Bắc K&lt;/i&gt;&lt;i&gt;inh ngầm tán  thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt N&lt;/i&gt;&lt;i&gt;am, duy trì các chính  phủ vương quốc ở Lào và Campuc&lt;/i&gt;&lt;i&gt;hia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách  của các đế chế Trung H&lt;/i&gt;&lt;i&gt;oa”.&lt;/i&gt;&lt;sup&gt;(13)&lt;/sup&gt;&lt;i&gt;.&lt;/i&gt; Nhớ lại những ngày  Trung Quốc hết lời ca ngợi Việt Nam đánh Mỹ và “hết lòng chi viện”…, thì có một  nhà báo phương Tây đã nói “Trung Quốc muốn ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ đến người  Việt Nam cuối cùng”. Họ quá thâm hiểm, động cơ sâu kín thật! Đúng là “bề ngoài  thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao”!&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Còn Trung Quốc tiến đánh Việt Nam tháng 3 năm 1979, tôi cứ nghĩ  chủ yếu do họ cay cú vì bị Việt Nam giúp nhân dân Campuchia nổi dậy, lật đổ tập  đoàn Khơ me đỏ Pôn-pốt, tay sai của họ, nên họ “dạy cho Việt Nam một bài học”  theo kiểu côn đồ: “Mày đánh con ông, thì ông đánh bố mày”… Hóa ra không phải  thiển cận, nông cạn như vậy! Chỉ khi đọc bài “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Một gương mặt khác của Lưu Á  Châu” &lt;/i&gt;&lt;/b&gt;do Dương Danh Di dịch nốt phần bài nói của vị tướng đang nổi danh  của Trung Quốc phân tích về “những đóng góp to lớn của quân GPND Trung Quốc cho  cải cách mở cửa” là tiêu diệt cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc tại Bắc  Kinh ngày 4 tháng 6 năm 1989 và tiến hành “cuộc đánh trả tự vệ đối với Việt Nam  năm 1979” mới rõ cái động cơ sâu xa của giới lãnh đạo Trung Quốc. Lưu Á Châu  nói: “&lt;i&gt;Một lần nữa là cuộc đánh trả tự vệ đối với Việt Nam năm 1979 và sau đó  là cuộc chiến đấu tại "Lưỡng Sơn" (tức vùng Pháp Ca Sơn). Đặc biệt là cuộc đánh  trả tự vệ Việt Nam năm 1979, rất nhiều đồng chí chúng ta không nhận thức được ý  nghĩa của cuộc chiến tranh này (…) Chúng ta cần xem xét cuộc chiến này từ góc độ  chính trị. Ý nghĩa của chiến tranh luôn luôn ở ngoài chiến tranh. Cuộc chiến  tranh này của đồng chí Đặng Tiểu Bình là đánh để cho hai người xem, một là Đảng  Cộng sản Trung Quốc, hai là bọn Mỹ. Năm 1978 đồng chí Tiểu Bình được phục hồi,  tháng 1 năm 79 thăm Mỹ, tháng 2 đánh nhau. Xem xét từ chính trị thấy, trận đánh  này không đánh không được. Vì sao vậy? Sau khi đồng chí Tiểu Bình phục hồi ý  tưởng chiến lược cải cách mở cửa Trung Quốc đã hình thành trong tim gan đồng  chí, muốn thực hiện ý tưởng chiến lược đó cần phải xây dựng được quyền uy tuyệt  đối trong đảng. Phải đánh một trận. Lúc đó "lũ bốn người" vừa bị đập tan, những  người có tư tưởng cực tả trong đảng chống Đặng càng chống đường lối và chính  sách của ông hơn. Muốn cải cách cần phải có quyền uy. Biện pháp nhanh nhất để  xây dựng quyền uy là đánh nhau…. &lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;Người Mỹ sau khi hao binh tổn tướng tả tơi nhếch nhác rút  khỏi Việt Nam, đồng chí Tiểu Bình đã nói, chúng ta cho Việt Nam bài học. Lúc đó  Việt Nam chạy theo ai? Chạy theo Liên Xô, lúc đó đồng chí Tiểu Bình phát động  cuộc đánh trả tự &lt;/i&gt;&lt;/div&gt;&lt;i&gt; &lt;div align="justify"&gt;vệ Việt Nam là đã vạch ranh giới giữa Trung Quốc với cái gọi là  mặt trận xã hội chủ nghĩa Liên Xô… Mười năm trước đồng chí Tiểu Bình đã nhìn rõ  điểm này, dùng cuộc &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;i&gt;chiến tranh đó để vạch rõ ranh giới với anh… Vừa rồi tôi nói  trận đánh này cũng là đánh vì người Mỹ, có nghĩa là nói để cho người Mỹ hả giận.  Có chứng cứ không? Có. Ngày hôm kia đồng chí Tiểu Bình vừa rời Nhà Trắng Mỹ về  thì ngày hôm sau đánh. Vì sao muốn để người Mỹ hả giận? Người Mỹ vừa vỡ đầu sứt  tai chạy khỏi Việt Nam. Vì sao chúng ta phải làm cho họ hả giận? Thực ra điều đó  cũng không phải vì Mỹ mà là vì chúng ta vì cải cách mở cửa. Trung Quốc muốn cải  cách mở cửa mà không có viện trợ của phương Tây đứng đầu là Mỹ là không có khả  năng. Đánh trận này, viện trợ kinh tế, viện trợ khoa học kỹ thuật, bao gồm cả  viện trợ quân sự và tiền vốn sẽ không ngừng chảy vào Trung Quốc. Thời kỳ trăng  mật Trung Mỹ dài tới 10 năm, mãi đến ngày 6 tháng 4 năm 1989 mới có dấu chấm.  Trận đánh đó mang lại cho Trung Quốc cái gì? Mang lại cho Trung Quốc rất nhiều  thời gian, rất nhiều nguồn vốn, rất nhiều kỹ thuật… Vì thế có thể nói, bước đi  đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc đã được cất lên từ cuộc chiến tranh  này…&lt;/i&gt;”&lt;sup&gt;(14)&lt;/sup&gt;&lt;/div&gt;&lt;/i&gt; &lt;div align="justify"&gt;Nghiên cứu động cơ quả là khó, nhưng “cái kim bọc giẻ lâu ngày  cũng tòi ra”. Lưu Á Châu ở trong “ruột” của Đặng Tiểu Bình, “tòi ra” như thế,  khó có ai phân tích cho ta hiểu rõ động cơ thực sự của việc Trung Quốc “dạy Việt  Nam” bài học năm 1979, rõ hơn như thế. Qua hai ví dụ trên đủ cho thấy việc  nghiên cứu động cơ chính trị, đối ngoại quan trọng, khó khăn, phức tạp biết  nhường nào! Ngày nay không chỉ những nhà lãnh đạo quốc gia, các chính khách mới  cần biết về động cơ của các quốc gia đối tác mà các đảng viên bình thường, các  quan chức địa phương, các cán bộ đoàn thể, các doanh nhân và nhân dân cũng cần  hiểu rõ động cơ của các đối tác, tránh bị người ta lừa phỉnh, dắt mũi, rồi trở  tay không kịp! Các nhà tuyên huấn đừng đánh lừa nhân dân kiểu: &lt;i&gt;“…Bắc Kinh,  tay chị, tay anh triệu vòng/Bạn mừng ta những chiến công/Vui như tiền tuyến giữa  lòng hậu phương…”!, &lt;/i&gt;rồi&lt;i&gt; “Bên ni biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng  là quê hương…”!&lt;/i&gt; Ngày nay mọi người dân Việt Nam đều cần hiểu: đằng sau những  cái bắt tay, ôm hôn và khẩu hiệu “bốn tốt”, “mười sáu chữ vàng” của Trung Quốc  là những thâm ý gì. Có vậy dân tộc ta mới khôn lên, biết cảnh giác, cùng đoàn  kết bảo vệ và phát triển đất nước vững vàng được.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;3. Lời kết&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Trên đây chỉ điểm lại một số lý thuyết chủ yếu làm cơ sở cho  việc tiếp cận những vấn đề thực tiễn rất đa dạng phức tạp của nghiên cứu động  cơ. Bên cạnh nhiều lý thuyết khác về động cơ, bản thân mỗi lý thuyết trên cũng  phát triển thành nhiều nhánh khác nhau. Do vậy tuỳ kiểu loại, tính chất của mỗi  đối tượng, nên chọn lựa lý thuyết, cách tiếp cận, phương pháp phù hợp. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Đời sống xã hội ta đang diễn ra quá trình phát triển hết sức  năng động, đa dạng, phức tạp. Nhiều tấm gương thành đạt, nhiều con người vượt  khó khăn say mê sáng tạo, nhiều người dấn thân vào những hoạt động vì xã hội,  bất chấp hiểm nguy … và cũng nhiều con người tha hoá ở mọi cấp độ, nhiều bạo  lực, tội ác, hiểm họa… Tất cả bức tranh xã hội muôn màu sáng, tối đó là mảnh đất  màu mỡ cho các đề tài nghiên cứu động cơ hoạt động của các cá nhân hay nhóm  người. Kết quả nghiên cứu động cơ sẽ không chỉ có ý nghĩa thực tiễn trước mắt mà  còn góp phần khái quát lý luận cũng như dự báo về “điềm lành, dữ” của xã hội  trong tương lai gần và xa hơn.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;02/2011&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;b&gt;M. V. T.&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chú thích:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(1) Ai cũng thấy tình hình tội phạm ngày càng gia tăng nguy  hiểm, nhưng tìm số liệu thống kê quá khó. Tuy nhiên số liệu sau đây trên báo CA  TP HCM ngày 17/1/2010 cũng cho thấy phần nào tình hình tội phạm: “Năm 2009, toàn  quốc xảy ra 50.963 vụ phạm pháp hình sự … Lực lượng công an đã điều tra khám phá  36.847 vụ, bắt giữ 48.496 đối tượng. Trong đó, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải  Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ xảy ra 13.650 vụ, chiếm gần 27% số vụ phạm pháp hình sự  trong cả nước”…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(2) Xem Hồ Thích&lt;i&gt; (1970) Trung Quốc Triết học sử, &lt;/i&gt;bản  tiếng Việt của dịch giả Huỳnh Minh Đức, NXB Khai trí, Sài Gòn, Chương 4, tr. 198  - 199.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(3)&lt;i&gt; Một số công trình Tâm lý học của A. N. Leonchiep  (2003)&lt;/i&gt;, Phạm Minh Hạc biên dịch và giới thiệu, NXB Giáo dục, HN., xem phần  Hoạt động, ý thức, nhân cách, trang 270 – 275- 285…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(4) Phát biểu của Ngô Bảo Châu trong buổi Lễ chào mừng tại  Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, tối 29/8/2010. (Báo Tiền Phong Online,  30/8/2010)&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(5) Trích trong bài phát biểu trên của Ngô Bảo Châu.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(6) L.I. Bozhovic (1981), &lt;i&gt;Nhân cách và sự hình thành nhân  cách ở lứa tuổi trẻ em, &lt;/i&gt;NXB Giáo dục, HN.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(7) Đỗ Long chủ biên (1995),&lt;i&gt; Hồ Chí Minh, những vấn đề Tâm  lý học nhân cách,&lt;/i&gt; Chương trình NCNN KX07 xuất bản, HN. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(8) B.D. Smith, H.J. Vetter (2005), &lt;i&gt;Các học thuyết về nhân  cách, &lt;/i&gt;NXB Văn hoá Thông tin, HN., 2005, tr. 263 – 264…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(9) B.D. Smith, H.J. Vetter (2005),&lt;i&gt;Các học thuyết về nhân  cách,&lt;/i&gt; NXB Văn hoá Thông tin, HN., tr. 191…&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(10) Cả hai vụ án trên có thể xem trên &lt;a href="http://dantri.com.vn/"&gt;http://dantri.com.vn/&lt;/a&gt; hay &lt;a href="http://www.vietnamnet.vn/"&gt;http://www.vietnamnet.vn&lt;/a&gt;.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(11) Phạm Minh Hạc (1983),&lt;i&gt; Hành vi và hoạt động, &lt;/i&gt;Luận án  TSKH, bản tiếng Việt, Viện Khoa học giáo dục, HN.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(12) Ví dụ, anh Đặng Vũ Thắng tố cáo nhóm quản lý Thảo cầm viên  TP HCM tham nhũng, sau đó 1 người trong số họ đã thuê 4 tên chém thuê từ Hà Nội  bay vào, đón đường, chém chết anh Thắng (17g chiều ngày 22/8/2001), rồi lĩnh  tiền và bay ra Hà Nội… (tìm Vụ án Đặng Vũ Thắng trên Google Vietnam)&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(13) Những đoạn “…” ở phần này đều trích từ lời nói đầu cuốn  “&lt;b&gt;&lt;i&gt;Trung Q&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;uốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở  Đông D&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;ương’’&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;i&gt; &lt;/i&gt;của Francois Joyaux, do NXB Thông tin  lý luận dịch, xuất bản vào tháng 3 năm 1981, được đăng trên anhbasam blog ngày  30/12/2010.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(14)&lt;i&gt; &lt;/i&gt;Dương Danh Dy,&lt;b&gt; &lt;i&gt;Một gương mặt khác của Lưu Á  Châu&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-2161151206162746762?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/2161151206162746762/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=2161151206162746762' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2161151206162746762'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/2161151206162746762'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2011/03/nghien-cuu-ong-co-e-hieu-ban-chat-hanh.html' title='Nghiên cứu động cơ để hiểu bản chất hành động, bản chất con người'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TW78SWwDZwI/AAAAAAAAJl8/fG9ej4yPtS8/s72-c/image_thumb.png?imgmax=800' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-1774055964324993770</id><published>2010-03-23T14:01:00.000+07:00</published><updated>2010-03-23T14:01:31.931+07:00</updated><title type='text'>Sự thật về người bệnh bị 'bòn rút' qua giá thuốc</title><content type='html'>&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;&lt;strong&gt;Giá thuốc bệnh viện công đắt gấp đôi  giá thị trường. Thuốc đã bị nâng 200&amp;nbsp;đến 300% so với giá gốc trước khi  được nhập khẩu vào Việt Nam. Nhưng khi vào các bệnh viện VN, giá bán  tiếp tục&amp;nbsp;chênh cao mấy trăm&amp;nbsp;phần trăm&amp;nbsp;so với giá nhập khẩu!&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span&gt;Giá thuốc viện công đắt gấp đôi giá thị trường&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Giá bán Vibovit Bovat (bổ sung Vitamin) tại  bệnh viện Nhi Trung ương là 5.800 đồng/gói. Ngay tại nhà thuốc Minh Đức  (nằm bên phải cổng chính của viện), giá loại này chỉ có 3.500 đồng/gói  (bằng 60% giá trong bệnh viện!)&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong đơn thuốc (kê ngày 25/02/2010 tại bệnh  viện Nhi TW) của &lt;span&gt;bệnh nhân Nguyễn Văn  Nguyên, 2 tuổi, quê tại Thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên  ghi &lt;/span&gt;rõ phải mua 60 gói Vibovit Bovat. Tổng số tiền chỉ để mua  loại này tại bệnh viện Nhi TW là 348.000 đồng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;table align="center" class="image center" style="width: 480px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;img align="middle" alt="Mô tả ảnh." height="269" src="http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201003/original/images1938992_Nguyen1.jpg" width="480" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td class="image_desc"&gt; &lt;div align="center" style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Đơn thuốc của bệnh nhân Nguyên tại BV Nhi TW  có thuốc Vibovit Bovat (loại thuốc thứ 3 từ trên xuống), giá 5.800  đồng/gói. Nếu mua ở nhà thuốc bên ngoài cổng viện Nhi, giá còn 3.500  đồng/gói!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong khi đó, nếu chỉ mua một loại thuốc trên ở  nhà thuốc Minh Đức, bệnh nhân này sẽ phải chi 210.000 đồng, tiết kiệm  được 138.000 đồng (chỉ cho 1 loại thuốc).&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Giá thuốc tăng hồng cầu Hemax loại 2.000 đơn vị  được BHYT thanh toán tại bệnh viện Thanh Nhàn là 235.200 đồng/hộp, mỗi  hộp 1 ống. Mức giá này cũng được áp dụng tại bệnh viện Bạch Mai. Tại  bệnh viện K, giá loại thuốc này nhỉnh hơn một chút, được bán ở mức  240.000 đồng/hộp.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong khi đó, tại Trung tâm dược phẩm 95 Láng  Hạ, giá Hemax 2.000 đơn vị được bán ở mức 145.000 đồng/hộp, thấp hơn giá  bán trong các bệnh viện công đến gần một nửa!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Tuy chênh lệch nhau lớn nhưng người bệnh khó có  khả năng từ chối mua thuốc này trong các bệnh viện công, bởi nhà thuốc  của bệnh viện tư, các nhà thuốc vừa và nhỏ trên thị trường không bán các  loại thuốc đặc trị như trên!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span&gt;Giá bán cho người bệnh cao hơn 700% giá nhập  khẩu!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Bệnh nhân Đào Phương Nam (trú tại xóm 11, xã  Nông Tuyến, Thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang) đến bệnh viện Nhi TW  khám với triệu chứng co giật tự nhiên. Đơn thuốc kê cho bệnh nhân này có  3 loại, trong đó có thuốc Lapaliver.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Thuốc Lapaliver (hộp 10 vỉ, mỗi vỉ 10 viên)  được bán tại bệnh viện Nhi TW với giá 3.700 đồng/viên. Như vậy, bệnh  nhân Nam muốn&amp;nbsp;mua một hộp thuốc này phải “móc hầu bao” 370.000 đồng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt; &lt;/div&gt;&lt;table align="center" class="image center" style="width: 480px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;img align="middle" alt="Mô tả ảnh." height="270" src="http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201003/original/images1938996_Nam1.jpg" width="480" /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td class="image_desc"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;span style="color: black;"&gt;Một hộp Lapaliver 100 viên (loại thứ 2 từ  trên xuống) nếu mua ở Viện Nhi TW có giá bán đắt gần gấp 5 lần so với  giá nhập khẩu!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Theo thông tin cập nhật nhất trên website của  Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), giá nhập khẩu của thuốc này vào thời điểm  năm 2008 là 4,5 đô la Mỹ/hộp và đợt nhập khẩu gần đây nhất (tháng  4/2009), giá nhập khẩu loại thuốc này không có biến động.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Như vậy, tính theo tỷ giá của năm 2010 (1 đô la  Mỹ tương đương 19.100 VND) thì giá nhập khẩu của loại thuốc trên là xấp  xỉ 87.000 đồng/hộp! So với giá bán ra tại bệnh viện Nhi TW (370.000  đồng/hộp) thì giá nhập khẩu thấp hơn giá bán tới 290.000 đồng/hộp!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt; &lt;table align="left" class="quote leftside" style="width: 200px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td&gt; &lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Theo một thống kê sơ bộ sau khi khảo sát giá  của 606 loại thuốc nhập khẩu được tiêu thụ tại bệnh viện Bạch Mai năm  2007, kết quả cho thấy:&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;- Giá trúng thầu cao hơn 653% so với giá nhập  khẩu: Có 1 loại&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;- Giá trúng thầu cao hơn từ 506% đến 534% so  với giá nhập khẩu: Có 2 loại&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;- Giá trúng thầu cao hơn từ 401% đến 448% so  với giá nhập khẩu: Có 3 loại&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Ngoài ra, có 10 loại thuốc có giá bán chênh giá  nhập khẩu trên 300%. Có rất nhiều loại thuốc mà mức chênh lệch này dao  động trong khoảng từ 100% đến 200%.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Kết quả chung cho thấy: Có 25,2% thuốc nhập  khẩu trong bệnh viện Bạch Mai có giá bán cao hơn giá nhập khẩu từ 35%  trở lên!&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;Tại bệnh viện Bạch Mai, giá  trúng thầu năm 2009 (giá trúng thầu sau đó trở thành giá bán cho người  bệnh) của loại thuốc Lydocef 1g (do hãng Shandong Reyoung của Trung Quốc  sản xuất, công ty Dược phẩm Trung ương II nhập khẩu) là 68.000 đồng/hộp  1 lọ.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong khi đó, giá nhập khẩu của loại thuốc này  năm 2008 (tính theo giá công bố mới nhất trên website Cục Quản lý Dược)  là 0,65 đô la Mỹ. Tính theo tỷ giá hiện tại, giá nhập khẩu của thuốc này  xấp xỉ 12.500 đồng!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Như vậy, giá bán ra chênh lệch tới xấp xỉ 540%  so với giá nhập khẩu!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Nhưng mức này vẫn chưa phải là mức chênh lệch  cao nhất. Đã có những loại tỷ lệ chênh lệch giữa giá bán ra với giá nhập  khẩu lên đến trên 700%!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Căn cứ vào bảng tổng hợp giá thầu năm 2009 của  Cục Quản lý Dược, bệnh viện Bạch Mai có tổ chức đấu thầu loại thuốc  Inimod 30mg. Giá trúng thầu thuốc này tại Bệnh viện Bạch Mai là 9.933  đồng/viên.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong khi đó, giá nhập khẩu loại thuốc này vào  Việt Nam của công ty Dược phẩm Traphaco chỉ dừng ở mức 1.320 đồng/viên.  Tính ra, giá bán cho người bệnh bằng 752% giá nhập khẩu (gấp 7,5 lần)!&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Khi đặt vấn đề vì sao lãnh đạo các bệnh viện  chấp nhận mức giá tiêu thụ quá cao so với giá nhập khẩu thì một trình  dược viên lâu năm của một công ty Dược phẩm tiết lộ: “Vấn đề không phải  lãnh đạo bệnh viện không biết giá nhập nhẩu. Song nếu biết giá nhập khẩu  rồi thì công ty Dược có thể “thỏa thuận” mức “ăn chia” để bệnh viện “ỉm  đi” và chấp thuận mức giá mà công ty đưa ra”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;b&gt;&lt;span&gt;Trước khi vào VN, thuốc đã được nâng 200%-300%  so với giá gốc!&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong báo &lt;i&gt;cáo “Pháp luật cạnh tranh điều  chỉnh hành vi phản cạnh tranh trong hệ thống phân phối dược phẩm tại thị  trường Việt Nam”&lt;/i&gt; do Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công thương) chủ trì  thực hiện nghiên cứu và công bố hồi tháng 03/2009, đã xuất hiện một  thông tin gây sốc.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Theo đó: &lt;i&gt;“Thuốc trước khi nhập khẩu vào Việt  Nam đã được nhà phân phối, công ty môi giới cấu kết với văn phòng đại  diện của các công ty nước ngoài tại Việt Nam để “ấn định” giá. Các công  ty nước ngoài cũng quyết định luôn giá bán buôn và giá bán lẻ ra thị  trường, có khi giá thuốc được nâng cao hơn giá gốc từ 200 đến 300%”.&lt;/i&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Đây cũng chính là một phần trong kết quả thanh  tra giá thuốc năm 2007 của Bộ Y tế.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Sau khi được nhập khẩu vào Việt Nam, công đoạn  tiếp theo là thuốc tiếp tục bị nâng giá thông qua quá trình đấu thầu khi  vào đến từng bệnh viện, kết quả là giá trúng thầu và giá nhập khẩu  chênh nhau một trời một vực như những ví dụ đã được dẫn chứng ở trên.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Nếu cộng tỷ lệ nâng giá khi nhập khẩu vào Việt  Nam với tỷ lệ nâng giá khi vào các bệnh viện là đã có thể tính ra tổng  mức chênh lệch quá lớn giữa giá gốc thực sự của thuốc với giá bán cho  bệnh nhân.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Tất cả những chênh lệch quá cao về giá như thế  này, chỉ có một đối tượng duy nhất phải gánh chịu hậu quả, đó là người  bệnh.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Giám đốc một công ty kinh doanh Dược phẩm trên  tại Hà Nội cho biết: “8 năm làm trong nghề đủ để tôi nắm được tất cả  những mánh khóe cũng như bất cập của việc quản lý giá thuốc hiện nay.  Giá thuốc nhìn bề ngoài có vẻ “yên ổn”, luôn được các cơ quan quản lý  báo cáo là được “bình ổn”, không tăng đột biến nhưng thực chất là không  thể tăng được nữa vì nó đã đang ở mức quá cao rồi”.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Trong khi thuốc nhập khẩu đang bị “làm giá” một  cách dễ dàng như thế này thì tỷ lệ thuốc nhập khẩu của Việt Nam ngày  càng gia tăng.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt;Theo báo cáo của Cục Quản lý Dược, chỉ tính  riêng năm 2008, số tiền Việt Nam chi ra để nhập khẩu thuốc là 923,288  triệu đô, tăng 13,7% so với năm 2007.&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span style="font-size: small;"&gt;&lt;span&gt; &lt;table align="center" class="quote center" style="width: 400px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td&gt; &lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;&lt;strong&gt;Tiền mua thuốc của người Việt Nam ngày  càng nhiều lên&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Theo báo cáo của Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế),  trong những năm gần đây, chi tiêu của người dân Việt Nam dành cho các  dịch vụ y tế ngày càng gia tăng, đặc biệt là chi tiêu dành cho dược  phẩm.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Năm 1998, chi tiêu cho tiền thuốc tính theo đầu  người mới ở mức 5,5 đô la Mỹ/năm. Sau 10 năm (2008), mức chi tiêu cho  tiền thuốc của người Việt Nam đã tăng lên mức 16,45 đô la/người/năm (cao  gấp 3 lần).&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="margin: 0in 0in 0pt; text-align: justify;"&gt;&lt;span&gt;Theo báo cáo phân tích ngành Dược công bố tháng  6/2009 của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt thì với mỗi đô la thu  nhập tăng thêm thì người Việt Nam trích ra 1 cent (tức 1% của phần thu  nhập tăng thêm) cho tiền thuốc.&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-1774055964324993770?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/1774055964324993770/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=1774055964324993770' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1774055964324993770'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1774055964324993770'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2010/03/su-that-ve-nguoi-benh-bi-bon-rut-qua.html' title='Sự thật về người bệnh bị &apos;bòn rút&apos; qua giá thuốc'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-9169565049633303830</id><published>2010-03-23T09:40:00.000+07:00</published><updated>2010-03-23T09:40:10.044+07:00</updated><title type='text'>Nguy cơ vỡ nợ</title><content type='html'>&lt;h3&gt;&lt;b&gt;Nguyễn Quang A&lt;/b&gt;&lt;/h3&gt;&lt;b&gt;Một công ty không trả được nợ khi đến hạn, sẽ lâm vào trạng thái  vỡ  nợ. Một quốc gia cũng vậy. Iceland năm ngoái đã rơi vào tình trạng  đó,  năm nay Hy Lạp đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Một công ty có nguy cơ vỡ nợ nếu không được các chủ nợ, hay các  bên  thứ ba cứu trợ, thì có thể bị phá sản, phải thanh lý mọi tài sản để  trả  nợ và bị xóa sổ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Một quốc gia khó có thể bị xóa sổ, nhưng nguy cơ phải bán tài sản,  tô  nhượng đất đai hầm mỏ để trả nợ là cao, hay việc các thế hệ tương  lai  phải còng lưng ra làm việc, chắt bóp chi tiêu để trả nợ là chuyện  đương  nhiên.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;span id="more-3391"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chính phủ Hy Lạp đã phải đưa ra các chính sách tăng thuế, cắt giảm   chi tiêu để có khả năng trả lãi và một phần gốc của món nợ quốc gia  hơn  400 tỷ euro. Người dân xuống đường biểu tình chống lại chính sách  tăng  thuế và cắt giảm phúc lợi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;16 Bộ trưởng tài chính các nước vùng euro dường như đã thống nhất  kế  hoạch giải cứu Hy Lạp trong cuộc họp tại Brussels ngày 15-3 vừa qua,  tuy  kế hoạch chi tiết chưa được tiết lộ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tại sao một quốc gia có thể lâm vào tình trạng vỡ nợ?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Cũng đơn giản như một hộ gia đình, hay một công ty, chính phủ phải   chi tiêu (nuôi quan chức, quân đội, công an, đầu tư phát triển,…) Cân   đối với các khoản chi, chính phủ có các khoản thu, nếu thu không đủ chi   thì phải đi vay trong hay ngoài nước, còn dùng máy in tiền để chi sẽ  gây  ra lạm phát khôn lường (thực sự là một loại thuế trá hình đánh vào  tất  cả mọi người dân).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nguồn thu nội địa của chính phủ là thuế, phí, bán tài nguyên (thí  dụ,  dầu, than đá), các khoản khác, và các khoản vay trong nước (bán  trái  phiếu, tín phiếu).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Các khoản thu từ nước ngoài gồm tiền viện trợ không hoàn lại  (thường  không đáng kể) và các khoản vay nước ngoài (ODA hay vay thương  mại, thí  dụ phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế như Việt Nam  đã phát  hành 1 tỷ USD trong thời gian vừa qua).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nếu sử dụng các khoản vay không hiệu quả, tham nhũng gây thất  thoát  và thu không nghiêm (trốn thuế) hay thu không đủ, thì nợ nần có  thể  chồng chất và rất dễ lâm vào tình trạng vỡ nợ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Báo chí nêu Hy Lạp vỡ nợ vì tham nhũng và trốn thuế. Xếp hạng tín   dụng của Hy Lạp từ mức (A -) đã bị hạ xuống (BBB+) mức thấp nhất trong   các nước Châu Âu. Xếp hạng tín dụng thấp càng gây khó khăn cho việc vay   mới (khó có thể vay hay phải vay với lãi suất cao).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Việt Nam có lẽ cũng phải nghiêm túc học các bài học đau xót này  của  Iceland và Hy Lạp, tuy trước mắt tình hình của chúng ta khả quan  hơn  nhiều do các khoản vay (ODA) dài hạn, lãi suất thấp và tổng dư nợ  chưa  quá cao. Tuy nhiên mức tăng dư nợ và hiệu quả sử dụng có thể gây  lo  ngại.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mức xếp hạng tín dụng của Việt Nam vừa bị Fitch hạ xuống một bậc   (xuống mức BB-). Thâm hụt ngân sách của Việt Nam liên tục ở mức cao suốt   nhiều năm trời. Các khoản nợ trong nước và nước ngoài của chính phủ   tăng nhanh, tuy được nhà chức trách thông báo vẫn ở mức an toàn (mức   dưới 40% GDP được gọi là mức an toàn).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009 nợ nước ngoài của Việt  Nam  bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Sau tháng 6-2009 Việt Nam đã ký thỏa   thuận vay và bảo lãnh có giá trị tổng cộng gần 4,5 tỷ USD (1,205 tỷ  USD  với Ngân hàng Phát triển Châu Á, ADB; 927 triệu USD với Ngân hàng  Thế  giới; 1,33 tỷ USD với Nhật Bản; và đã phát hành 1 tỷ USD trái phiếu  quốc  tế) đó là chưa kể khoản vay 290 triệu USD Nhật Bản vừa ký cho  Việt Nam  vay giữa tháng 3 này. Nếu giải ngân hết các khoản này thì nợ  nước ngoài  của Việt Nam có thể tăng lên khoảng 35% GDP. Chưa rõ nợ  trong nước của  Chính phủ là bao nhiêu. Nhiều người cho rằng nợ công  (trong và ngoài  nước) của nhà nước Việt Nam đã vượt quá 50% GDP.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Điều đáng lo ngại là hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao,   nạn tham nhũng tràn lan và nạn “khát đầu tư” của các cơ quan nhà nước   vẫn không hề dịu đi, và vì thế nợ có thể tăng nhanh nếu không được kiểm   soát chặt.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nào là các dự án bauxite, đường sắt cao tốc mà Quốc hội chắc sẽ  bàn,  điện hạt nhân, và bao nhiêu siêu dự án khác.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Rồi Bộ Tài chính vừa có Quyết định về việc bổ sung vốn điều lệ cho   Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) với  số  tiền trên 10.200 tỷ đồng… vân vân và vân vân.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tất cả các siêu dự án đó và việc chi cấp vốn cho các tập đoàn và  các  đại gia quốc doanh cần các khoản tiền khổng lồ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nhà nước trung ương vay, các tập đoàn vay và các địa phương cũng  vay.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thành phố Hồ Chí Minh vừa thành lập công ty đầu tư tài chính nhà  nước  (HFIC) để huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước   ngoài, phát hành trái phiếu, vay vốn của các tổ chức tài chính, tín   dụng; tiếp nhận các nguồn tài trợ, nhận ủy thác các nguồn vốn;…&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hà Nội cũng đang đề xuất để được vay nước ngoài hàng tỷ USD. Có lẽ  Hà  Nội cũng sẽ noi gương thành phố Hồ Chí Minh để lập ra công ty đầu  tư  tài chính của mình.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Không rõ các tỉnh thành khác ra sao.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chưa nói đến chuyện các công ty đầu tư tài chính nhà nước này sẽ  chèn  ép các ngân hàng trong huy động vốn, tôi chỉ cảnh báo nếu không  kiểm  soát chặt thì các công ty đầu tư tài chính nhà nước địa phương và  các  tập đoàn có thể vay tràn lan để đầu tư tràn lan (với lãi suất cao  hơn  nhà nước trung ương vay) có thể đẩy đất nước lâm cảnh nợ nần và có  thể  có nguy cơ vỡ nợ trong tương lai, đẩy con cháu phải còng lưng trả  nợ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nạn khát đầu tư là một căn bệnh của bất cứ nhà nước nào, nếu không   được giám sát, kiểm soát một cách chặt chẽ. Có quá nhiều cám dỗ và quá   nhiều lý do nghe rất “chính đáng” cho việc vay nợ và chi tiêu, song  hãy  đừng đổ gánh nặng lên các thế hệ tương lai.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Phải xác định thật rõ các việc nhà nước nhất quyết phải làm, phải  đầu  tư (nuôi quân đội, làm luật, ép thực thi luật, xây dựng hạ tầng,…),   nhưng nhà nước đừng đi kinh doanh, đừng đầu tư kinh doanh.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nếu vẫn còn mụ mẫm trong não trạng “chính phủ không dựa vào các  tập  đoàn thì dựa vào ai?” hay tập đoàn “khỏe” chính phủ “khỏe” thì khả  năng  đất nước đến ngày vỡ nợ là rất cao.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Các vị có chức có quyền hãy cẩn trọng&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width: 298px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="298"&gt;&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="298"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="298"&gt;&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt; &lt;td width="298"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/td&gt; &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;b&gt;&lt;em&gt;* FITCH là một tổ chức xếp hạng toàn cầu chuyên cung cấp các  dữ  liệu, nghiên cứu, và các dự đoán về tín dụng một cách độc lập cho  các  thị trường tín dụng quốc tế.&lt;/em&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;Nguyễn Quang A&lt;/strong&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Nguồn: &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy50aWVucGhvbmcudm4vVGlhbnlvbi9JbmRleC5hc3B4P0FydGljbGVJRD0xODkzNTgmYW1wO0NoYW5uZWxJRD0z"&gt;http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=189358&amp;amp;ChannelID=3&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-9169565049633303830?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/9169565049633303830/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=9169565049633303830' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/9169565049633303830'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/9169565049633303830'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2010/03/nguy-co-vo-no.html' title='Nguy cơ vỡ nợ'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-60703966964810004</id><published>2010-03-19T10:05:00.003+07:00</published><updated>2010-03-19T10:06:05.985+07:00</updated><title type='text'>Quanh phát biểu của ông Phó Chủ tịch tỉnh Lạng Sơn</title><content type='html'>&lt;div class="snap_preview"&gt;&lt;h3&gt;&lt;b&gt;&lt;i&gt;Hoài Nam&lt;/i&gt;&lt;/b&gt;&lt;/h3&gt;&lt;div class="wp-caption alignright" id="attachment_3072" style="width: 260px;"&gt;&lt;b&gt;&lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL2JveGl0dm4ud29yZHByZXNzLmNvbS8yMDEwLzAzLzE4L3RodWUtZCVlMSViYSVhNXQtciVlMSViYiVhYm5nLSVlMiU4MCU5YzUwLW5hbS1uJWUxJWJiJWFmYS1haS1sYW0tbmclYzYlYjAlZTElYmIlOWRpLWRvLWtpJWUxJWJiJTgzbS1zb2F0JWUyJTgwJTlkL2ltYWdlMDA0MTgtMjUweDE0MC8%3D" rel="attachment wp-att-3072"&gt;&lt;img alt="" class="size-full wp-image-3072" height="140" src="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL2JveGl0dm4uZmlsZXMud29yZHByZXNzLmNvbS8yMDEwLzAzL2ltYWdlMDA0MTgtMjUweDE0MC5qcGc%2Fdz0yNTAmIzAzODtoPTE0MA%3D%3D##038;h=140" title="image00418-250x140" width="250" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;div class="wp-caption-text"&gt;&lt;b&gt;Ông  Nguyễn Văn Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, người ký Giấy chứng  nhận đầu tư cho công ty Innov Green Lạng Sơn đầu tư, thuê đất trồng  rừng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;Hôm nay (17/3/2010) đọc bài&lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy5ib3hpdHZuLm5ldC9iYWkvMjA2Mw%3D%3D"&gt;  &lt;i&gt;Thuê đất rừng: &lt;/i&gt;“&lt;i&gt;50 năm nữa, ai làm người đó kiểm soát&lt;/i&gt;”&lt;/a&gt;  [6] tôi giật nẩy cả mình, không phải vì việc người ta đem đất đai, cả ở   vùng xung yếu, của Tổ quốc đi cho thuê dài hạn – việc này đã giật mình   từ hôm đọc bài cảnh báo của tướng Đồng Sỹ Nguyên [1], mà vì câu trả  lời  tắc trách của một vị quan đầu tỉnh – ông Nguyễn Văn Bình, Phó Chủ  tịch  UBND tỉnh Lạng Sơn.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Xét cho cùng, câu trả lời của ông quan này cũng là trung thực vì  hẳn  nhiên 50 năm nữa ông ấy gần như chắc chắn không còn trên đời này,  tất  nhiên chả kiểm soát gì được ai nữa. Mà không đâu xa, chỉ vài năm  nữa  thôi, hết nhiệm kỳ, người kế tục ông ta sẽ phải kiểm soát những gì  ông  ta để lại, ít nhất cũng để phát biểu rằng &lt;i&gt;“vấn đề này do lịch  sử để  lại”&lt;/i&gt; [9].&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tuy nhiên, ở địa vị một người có quyền lực vào hàng nhất nhì của  tỉnh  và một trong vài trăm người có quyền lực nhất trên mảnh đất hơn 80   triệu dân này thì câu trả lời của ông thể hiện một lối tư duy ngắn và  vô  trách nhiệm đến đáng sợ. Đây là một minh chứng cực rõ về lối “tư duy   nhiệm kỳ” mà xã hội lâu nay phê phán [10]. Cách tư duy đó chỉ nhằm làm   sao thu lợi nhất có thể trong thời gian nắm quyền, còn về sau hại cho   dân, cho nước thì không phải chuyện của họ! Trong trường hợp này, tỉnh   Lạng Sơn có thể báo cáo lên trên thành tích là thu hút được vốn đầu tư   nước ngoài chừng này, chừng này, dự án với nước ngoài được thúc đẩy   nhanh thế nọ, thế kia,… Ngoài ra trên thực tế có lẽ ít ai tin rằng các   công ty nước ngoài đó cứ đường đường chính chính xin đầu tư là cứ thế   đúng thủ tục họ sẽ được giao bạt ngàn đất đai, bạt ngàn rừng vậy đâu.   Lợi vậy, còn hại thì đã được tướng Đồng Sỹ Nguyên và biết bao người khác   chỉ ra rồi [1, 3, 4]. Chính vì thế Thủ tướng đã yêu cầu lập tức dừng   việc cấp giấy chứng nhận đầu tư mới để rà soát [2].&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span id="more-3107"&gt;&lt;/span&gt;&lt;b&gt;Đọc mấy con số và làm vài phép so sánh  đơn giản mà xót cả ruột và ghê  cả người: Theo báo cáo của Bộ Nông  nghiệp &amp;amp; Phát triển nông thôn  lên Thủ tướng, đã có 10 tỉnh cấp giấy  chứng nhận đầu tư trồng rừng cho  các nhà đầu tư nước ngoài với tổng  diện tích dự kiến là 305.353 ha [2].  Bạn có biết con số đó là bao nhiêu  không? Nó là hơn 3.050 km vuông, tức  gần 1% diện tích cả đất nước! Để  tiện hình dung hơn, một tỉnh có diện  tích 3.050 km vuông sẽ lớn hơn 21  trên tổng số 65 tỉnh/thành phố của cả  nước, đáng sợ chưa? Hơn nữa,  trong 3.050 km vuông kể trên có tới 2.640  km vuông thuê bởi Trung Quốc,  Hồng Kông và Đài Loan, nghĩa là kiểu gì  cũng là Tàu! Một tỉnh diện  tích 2.640 km vuông vẫn lớn hơn 20 trên 65  tỉnh/thành phố của cả nước  [8]! Hiện tại, như báo cáo của Bộ NN&amp;amp;PTNT  chỉ ra, mới có khoảng  11.1% tổng diện tích dự kiến được thực sự cho  thuê nhưng nếu không có  chỉ thị gấp của Thủ tướng thì không biết chuyện  gì sẽ xảy ra.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vẫn trong bài báo nêu trên [6], khi được hỏi, ông quan tỉnh Lạng  Sơn  thao thao bất tuyệt về khía cạnh an ninh quốc phòng của các dự án  trên  tỉnh của ông. Nào là &lt;i&gt;“Chúng tôi là người bảo vệ biên giới thế  nên an  ninh quốc phòng phải đưa lên đầu”&lt;/i&gt;, nào là &lt;i&gt;“Đương nhiên  có  chuyện đó (chuyện thông qua tham mưu của các cơ quan an ninh quốc  phòng –  Hoài Nam). Trong quá trình chúng tôi cấp phép, trong cơ quan  thẩm định  có cơ quan quân đội bộ chỉ huy quân sự tỉnh, biên phòng tỉnh”&lt;/i&gt;.  Hóa  ra ông này không đọc tin tức nên nhắm mắt nói liều vì cách đó 2  hôm, báo  chí đã được Đại tá Hoàng Công Hàm, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy  quân sự  tỉnh Lạng Sơn cho biết Bộ chỉ huy quân sự tỉnh không hề nhận  được một  dòng báo cáo nào về dự án có yếu tố nước ngoài đến thuê đất  trồng rừng  [5]. Khi được phóng viên “nhắc” điểm quan trọng này, ông  quan cười (tôi  hình dung được kiểu cười đó) và giả lả &lt;i&gt;“Thì ta đang  trao đổi mà…”&lt;/i&gt;.  Một người chịu trách nhiệm lớn lao trước hàng triệu  người dân mà sẵn  sàng dối trá công khai trước báo chí đến như vậy, ta  tự hỏi khi nào ông  ta nói thật?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong một bài báo khác ra cùng ngày, người đọc được biết công ty  Tàu  đứng sau phần lớn các dự án trồng rừng ở các tỉnh biên giới phía  Bắc sẽ  trồng mới thêm 400ha rừng ở tỉnh Quảng Nam và được miễn tiền  thuê đất  trong 50 năm [7]! Ông Trần Văn Tri, Giám đốc sở Kế hoạch và  Đầu tư Quảng  Nam cho biết việc miễn tiền thuê đất 50 năm là chủ trương  của Chính phủ  về ưu đãi đầu tư, được áp dụng trên cả nước. Nếu đúng như  vậy thì rất  có thể 3.050 km vuông mà Tàu mượn gần hết kia cũng được  giao cho nhà đầu  tư miễn phí. Điều này gạt bỏ luận điệu nào đó cho rằng  nhà nước ta “&lt;b&gt;bán  đất&lt;/b&gt;” vì ta có thu về đồng tiền nào  đâu – ít nhất là không về  ngân sách nhà nước? Nhưng nó nêu lên một câu  hỏi cực lớn là vì lý do gì  ta lại “&lt;b&gt;hào phóng&lt;/b&gt;” đến mức  cho Tàu dùng miễn phí cả một  tỉnh hạng trung tới 50 năm ròng rã???&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chưa biết rồi chuyện này sẽ đi tới đâu. Hy vọng góp ý của những  người  quan tâm giúp Chính phủ tìm là cách xử lý đúng đắn, mà có lẽ hợp  lý  nhất là hủy mọi hợp đồng và chấp nhận bồi thường cho phía “lạ”. Tuy   nhiên xử lý kiểu gì mà các ông quan kiểu ông ở Lạng Sơn kia vẫn ngồi   nguyên đó hoặc chuyển vị trí khác béo bở hơn thì vẫn chỉ là chữa bệnh   AIDS bằng cách bôi dầu cao lên nốt ghẻ mà thôi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;b&gt;HN&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;b&gt;Tham khảo:&lt;/b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;b&gt; &lt;/b&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[1] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy50dWFudmlldG5hbS5uZXQvMjAxMC0wMi0yNy10dW9uZy1kb25nLXN5LW5ndXllbi1jYW5oLWJhby12aWVjLWNoby1udW9jLW5nb2FpLXRodWUtcnVuZw%3D%3D"&gt;Cảnh   báo của tướng Đồng Sỹ Nguyên&lt;/a&gt;, http://&lt;cite&gt;www.tuanvietnam.net/2010-02-27&lt;/cite&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[2 &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy52aWV0bmFtbmV0LnZuL2NoaW5odHJpLzIwMTAwMy9UaHUtdHVvbmctS2hvbmctY2FwLXBoZXAtbW9pLWNoby1kdS1hbi10aHVlLXJ1bmctODk4MTE2Lw%3D%3D"&gt;Thủ   tướng yêu cầu không cấp phép mới cho dự án thuê rừng&lt;/a&gt;, &lt;i&gt;phapluatonline&lt;/i&gt;  11/03/2010&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[3] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy52aWV0bmFtbmV0LnZuL3Bza3MvMjAxMDAzL0dpYW8tZGF0LXJ1bmctY2hvLW5ndW9pLW51b2MtbmdvYWktZGFuLXNvbmctYmFuZy1naS04OTY0NzQv"&gt;Tận   mắt chứng kiến việc giao đất rừng cho người nước ngoài&lt;/a&gt;, &lt;i&gt;VietnamNet&lt;/i&gt;  01/03/2010&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[4] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy52aWV0bmFtbmV0LnZuL3Bza3MvMjAxMDAzL0NodWEtY28tZ2lheS1waGVwLWN0eS1udW9jLW5nb2FpLWRhLWhvaS1oYS10cm9uZy1ydW5nLTg5NjY2Ni8%3D"&gt;Chưa   có giấy phép, công ty nước ngoài hối hả trồng rừng&lt;/a&gt;, &lt;i&gt;Niên giám   Nông nghiệp Thực phẩm&lt;/i&gt; 04/03/2010&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[5] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy52aWV0bmFtbmV0LnZuL3Bza3MvMjAxMDAzL0dpYXQtbWluaC1raGktbmdoZS10aG9uZy10aW4tY2hvLW51b2MtbmdvYWktdGh1ZS1kYXQtODk4ODA1Lw%3D%3D"&gt;Ý   kiến của đại diện Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn&lt;/a&gt;,   http://www.boxitvn.net/bai/2013&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[6] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy52aWV0bmFtbmV0LnZuL3Bza3MvMjAxMDAzL0xhbmctU29uLTUwLW5hbS1udWEtYWktbGFtLXRoaS1uZ3VvaS1kby1raWVtLXNvYXQtODk5MjMzLw%3D%3D"&gt;Phát   biểu ghê người của ông Phó Chủ tịch tỉnh Lạng Sơn&lt;/a&gt;,   http://www.boxitvn.net/bai/2063&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[7] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy5zZ3R0LmNvbS52bi9kZXRhaWwyOS5hc3B4P25ld3NpZD02NDI2OSZhbXA7ZmxkPUhUTUcvMjAxMC8wMzE2LzY0MjY5"&gt;Quảng   Nam cho thuê đất 5 năm nhưng miễn 100% phí thuê đất&lt;/a&gt;,   http://www.baomoi.com/Info/Cong-ty-Trung-Quoc-trong-rung-o-Quang-Nam-Khong-ton-tien-thue-dat/45/3971915.epi&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[8] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3ZpLndpa2lwZWRpYS5vcmcvd2lraS9UJUUxJUJCJTg5bmhfVmklRTElQkIlODd0X05hbQ%3D%3D"&gt;Danh   sách các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và diện tích&lt;/a&gt;,   Wikipedia, phần tiếng Việt.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[9] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3ZpZXRuYW1uZXQudm4vY2hpbmh0cmkvMjAwOC8xMS84MTI5OTYv"&gt;“Do  lịch  sử để lại”&lt;/a&gt;. Xem Đoan Trang. &lt;i&gt;Phát ngôn, hành động ấn  tượng: Do  lịch sử, do cơ chế… &lt;/i&gt;http://&lt;cite&gt;www.tuanvietnam.net/2009-11-13&lt;/cite&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;[10] &lt;a href="http://surfert.nl/index.php5?q=aHR0cDovL3d3dy5kYW5nY29uZ3Nhbi52bi9jcHYvTW9kdWxlcy9OZXdzL05ld3NEZXRhaWwuYXNweD9jb19pZD0zMDExOSZhbXA7Y25faWQ9MjQ0MzU5I0tjU05Va3FFRkVPUw%3D%3D##KcSNUkqEFEOS"&gt;Tư   duy nhiệm kỳ&lt;/a&gt;, báo điện tử &lt;i&gt;ĐCSVN &lt;/i&gt;18/03/2010&lt;/b&gt;&lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-60703966964810004?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/60703966964810004/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=60703966964810004' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/60703966964810004'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/60703966964810004'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2010/03/quanh-phat-bieu-cua-ong-pho-chu-tich.html' title='Quanh phát biểu của ông Phó Chủ tịch tỉnh Lạng Sơn'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-5898011662284351266</id><published>2010-03-17T10:24:00.002+07:00</published><updated>2010-03-17T10:24:22.355+07:00</updated><title type='text'>Nên xử lý quan hệ Việt – Trung như thế nào?</title><content type='html'>&lt;b&gt;&lt;strong&gt;I. Từ trước đến nay Trung Quốc đối xử với ta như thế nào?&lt;/strong&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Một nghìn năm nô dịch nước ta (Bắc thuộc) thì mọi người đã rõ.  Trong thời kỳ ấy, tất nhiên dân ta đã có nhiều cuộc khởi nghĩa giành độc  lập nhưng không thành hoặc chỉ tồn tại được một thời gian ngắn. Kể từ  vua Ngô Quyền rồi Đinh Tiên Hoàng kế tiếp thống nhất giang sơn giành độc  lập thì các triều đại Trung Hoa từ Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh  đều đem quân xâm lược nước ta hòng biến nước ta thành châu quận của họ.  Quân dân ta kiên cường bất khuất, đoàn kết một lòng, dưới sự chỉ huy của  những anh hùng, hào kiệt đều đã đánh bại họ, giữ vững bờ cõi giang sơn.  Điều đó ai cũng biết. Nhắc lại hai đoạn trên để nói lên rằng tư tưởng  bành trướng, bá quyền nước lớn luôn là truyền thống xuyên suốt của những  người nắm quyền ở Trung Quốc.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đến thời kỳ hai nước cùng làm cách mạng, tuy lúc đó còn có ảnh  hưởng chừng nào của tinh thần quốc tế chủ nghĩa, giúp đỡ lẫn nhau nhưng  những người lãnh đạo Trung Quốc vẫn thể hiện ý đồ muốn ta thần phục và  đi vào quỹ đạo của họ bằng nhiều chủ trương chính sách.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;1&lt;/strong&gt;. Chinh phục ta &lt;strong&gt;&lt;em&gt;bằng tư tưởng Mao  Trạch Đông&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt; và giúp ta đánh Pháp.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Về chính trị, họ truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông. Lúc đó trong  chương trình giáo dục ở trường Đảng của ta có tiết mục &lt;strong&gt;&lt;em&gt;tư  tưởng Mao Trạch Đông&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;, cố vấn Trung Quốc cũng tuyên truyền  tư tưởng Mao Trạch Đông và giới thiệu kinh nghiệm của Trung Quốc. Có cố  vấn quân sự giúp ta đồng thời giúp ta về vũ khí, xe vận tải, pháo 105,  pháo cao xạ… Khách quan mà nói, nếu không có sự giúp đỡ đó thì ta chưa  có trận thắng Điện Biên Phủ hoặc có thắng cũng không ít khó khăn. Nhưng  trong Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954, lúc ấy Pháp thất thế không còn có thể làm  gì hơn mà Mỹ thì chưa thể trực tiếp nhảy vào. Đáng lẽ ta có thể đấu  tranh đẩy giới tuyến quân sự tạm thời xuống đến vĩ tuyến 16, thế nhưng  Trung Quốc lại cứ khuyên ta chấp nhận vĩ tuyến 17. Như vậy là Trung Quốc  vừa giúp ta lại vừa hạn chế thắng lợi của ta. Trung Quốc khuyên ta nên  tập trung xây dựng miền Bắc, trường kỳ mai phục, không tiếp tục đấu  tranh vũ trang giải phóng miền Nam, không muốn ta mạnh hơn lên để dễ bề  khống chế.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đến khi theo kinh nghiệm Trung Quốc, ta phạm sai lầm nghiêm trọng  trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, gây tổn thất quá lớn, ta  mới thôi dạy tư tưởng Mao Trạch Đông trong trường Đảng và không áp dụng  kinh nghiệm của Trung Quốc nữa. Trung Quốc thấy thần phục ta bằng tư  tưởng Mao Trạch Đông không được, họ bắt đầu chuyển sang thực hiện chủ  trương chính sách mới.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;2&lt;/strong&gt;. Giúp ta hàng loạt xí nghiệp khiến ta hàm ơn và  ngả theo Trung Quốc.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau hòa bình lập lại, Trung Quốc giúp ta xây dựng nhiều nhà máy và  công trình: Nhà máy Cao su, Xà phòng, Thuốc lá, Bóng đèn phích nước, Sứ  Hải Dương, Phân đạm Hà Bắc, Gang thép Thái Nguyên, Dệt Minh Phương, Mì  chính Việt Trì v.v. Một mặt cũng muốn giúp cho ta có hàng hóa sản phẩm  cần thiết, nhưng mặt khác đấy cũng là dịp đổi mới thiết bị của họ, đưa  máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ đã cũ kỹ sang giúp ta và ta phải  phụ thuộc họ về nguyên liệu, phụ tùng. Những sản phẩm của các nhà máy  nói trên thua xa thứ cùng loại sản xuất trong nước họ, có công trình  không phát huy được hiệu quả, làm ăn thua lỗ, có những công trình chạy  tậm tịt về sau Mỹ ném bom phá cho sập nốt, thành thử kết quả giúp ta về  kinh tế bằng không. Như vậy là tranh thủ ta bằng xây dựng kinh tế cũng  không thành công. Sau này những nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ lại tiếp tục  có chủ trương chính sách mới đối với ta.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tuy vậy, Trung Quốc vẫn tiếp tục giúp ta. Từ 1950 đến 1970, là  thời kỳ họ ra sức tranh thủ ta, lãnh đạo Trung Quốc đối xử với các vị  lãnh đạo cao cấp của ta trân trọng và thân tình, đối với học sinh của ta  và cán bộ ta có việc sang Trung Quốc rất ân cần, tử tế. Có điều đáng  chú ý là mỗi khi có lãnh đạo của ta sang thăm hoặc làm việc với Trung  Quốc thì ngay tối hôm đó Đài phát thanh và truyền hình Trung Quốc đều có  tiết mục nói về Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là của Trung  Quốc.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;3&lt;/strong&gt;. Trong thời kỳ ta kháng chiến chống Mỹ, Trung  Quốc vẫn tiếp tục viện trợ cho ta nhằm tranh thủ ta.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc nước ta, lãnh đạo Trung Quốc tuyên  bố “Người không đụng đến ta, ta cũng không đụng đến người”, ý nói Trung  Quốc sẽ không tham chiến giúp Việt Nam. Dẫu thế, trong thời kỳ đầu cuộc  kháng chiến chống Mỹ, lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc cung cấp viện trợ  cho ta rất nhiều, từ vũ khí, phương tiện chiến tranh đến quân trang,  quân dụng, lương thực, thực phẩm v.v. Khách quan mà nói, nếu không có sự  viện trợ to lớn đó của Trung Quốc và sự giúp đỡ nhiệt tình của Liên Xô  về máy bay, xe tăng, tên lửa, Ka-chiu-sa, khí tài hiện đại v.v… thì ta  khó thắng Mỹ. Nhân dân ta rất biết ơn Trung Quốc cũng như Liên Xô.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Vì sao Trung Quốc viện trợ quân sự cho ta to lớn như vậy? Bấy giờ  Chủ tịch Mao Trạch Đông còn sống, lãnh đạo Trung Quốc vẫn coi Mỹ là đế  quốc thù địch, giúp ta giữ vững miền Bắc không để xảy ra tình hình quân  Mỹ tiến sát biên giới Trung Quốc, bom rơi vào đất Trung Quốc như những  năm 50 Mỹ đánh Triều Tiên. Giúp Việt Nam đánh Mỹ là đánh Mỹ ở ngoài biên  giới để không thiệt hại cho nội địa Trung Quốc, thâm ý của Trung Quốc  là ở chỗ ấy. Hơn nữa, lúc ấy mâu thuẫn Trung – Xô đã găng đến mức coi  nhau là thù địch, Trung Quốc viện trợ to lớn cho ta cũng nhằm tranh thủ  ta ngả về họ, không ngả về Liên Xô. Tuy nhiên, với tài ngoại giao thần  tình của Hồ Chủ tịch, chúng ta vẫn quan hệ cân bằng với cả hai nước.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi chiến tranh diễn đến cục diện giằng co, Trung Quốc thấy Mỹ khó  thắng nổi Việt Nam, khả năng hai bên ngồi vào bàn đàm phán xuất hiện,  thì Trung Quốc lại muốn ta không đàm phán, tiếp tục “đánh đến người Việt  Nam cuối cùng” để cho cả Việt Nam và Mỹ đều tổn thất và suy yếu, tất  nhiên sẽ có lợi cho Trung Quốc. Đến lúc này Nich-xơn tìm đến Trung Quốc,  những nhà lãnh đạo Trung Quốc thấy ngay cơ hội bắt tay làm ăn với Mỹ.  Ta vẫn ngồi vào bàn đàm phán. Trung Quốc thấy viện trợ ta nhiều thế mà  ta vẫn không nghe theo họ, họ bắt đầu chuẩn bị con bài khác.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;4&lt;/strong&gt;. Chuẩn bị ép ta về quân sự hòng buộc ta phải  phục tùng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi hiệp định Pa-ri thắng lợi Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam, hai  bên giữ nguyên vị trí chờ tổng tuyển cử, lãnh đạo Trung Quốc khuyên ta  ngừng hoạt động quân sự theo như hiệp định, ta cũng không nghe theo. Thế  là một mặt Trung Quốc mở thêm những con đường từ Vân Nam, Quý Châu ra  sát các tỉnh biên giới nước ta để chuẩn bị đường tiến quân khi cần, mặt  khác tăng cường viện trợ vũ khí, quân trang, quân dụng cho Pôn-pốt ở  Cam-pu-chia để nắm chặt nó làm gọng kìm quân sự phía Tây Nam nước ta.  Sau khi ta giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, trái với ý đồ của  Trung Quốc, quan hệ giữa hai nước càng xấu đi. Đoàn đại biểu quân sự  nước ta do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu sang cám ơn Trung Quốc, họ  đối xử với đoàn rất xấu. Khi đoàn xuống Thành Đô, cùng lúc ấy có đoàn  quân sự của Triều Tiên do vị Tổng tham mưu trưởng dẫn đầu cũng đến đấy.  Họ bố trí cho đoàn Triều Tiên ở lầu loại nhất, đãi đằng rất chu đáo. Còn  Đoàn Đại tướng Tổng tư lệnh của ta ở lầu hạng kém hơn và khi ăn cơm thì  &lt;strong&gt;&lt;em&gt;ngồi ghế đẩu&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt; (không có tựa), khi đoàn trở về  trên xe lửa, họ dọn cơm cho ăn có &lt;strong&gt;&lt;em&gt;cả bát mẻ&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;!  Điều đó cho thấy thái độ hành xử của người lãnh đạo Trung Quốc: “Khi  muốn tranh thủ ta thì &lt;strong&gt;&lt;em&gt;như san cửa sẻ nhà&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;, khi  trái ý đồ của họ, họ trở mặt thì quá &lt;strong&gt;&lt;em&gt;tàn nhẫn và ty tiện&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;”&lt;em&gt;.&lt;/em&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sau khi ta giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Pôn-pốt đánh  phá biên giới Tây Nam nước ta, giết hại đồng bào ta, đồng thời xảy ra sự  kiện mà Trung Quốc gọi là “bức hại và xua đuổi nạn kiều” thì quan hệ  hai nước trở nên rất căng thẳng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khi đồng chí Lê Duẩn thăm Liên Xô và ký hiệp ước hợp tác hữu nghị  với Liên Xô và khi ta tiến quân vào Cam-pu-chia nhằm tiêu diệt bọn  Pôn-pốt, chấm dứt sự đánh phá biên giới nước ta đồng thời cứu giúp nhân  dân Cam-pu-chia khỏi họa diệt chủng thì lập tức Đặng Tiểu Bình huy động  nhiều Sư đoàn theo những con đường sát biên giới nước ta mà họ đã chuẩn  bị sẵn từ trước, tiến vào đánh phá ba tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn,  giết hại nhân dân ta, hòng cứu bọn Pôn-pốt đồng minh và là gọng kìm phía  Tây Nam của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình tuyên bố là “dạy cho Việt Nam  một bài học”. Thật là giọng điệu bá quyền nước lớn đúng như câu &lt;strong&gt;“&lt;em&gt;Thuận  ngã giả xương, nghịch ngã giả vong&lt;/em&gt;”&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;(Thuận theo  ta thì tốt, trái với ta thì chết) mà tôi được đọc nhiều lần trên báo của  họ khi tôi làm Đại sứ nước ta ở Bắc Kinh. Đánh ta năm 1979 một mặt gạt  bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung  Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi  không đạt được thì trở mặt. Cái gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học”  còn là món quà Đặng Tiểu Bình tặng cho Tổng thống Nich-xơn nhằm phát  triển quan hệ Trung – Mỹ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên  tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện  Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm  vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai  bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm  canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm  canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn.  Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định  theo &lt;strong&gt;&lt;em&gt;hiện trạng&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;”, tranh luận qua lại, Trung  Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì &lt;strong&gt;&lt;em&gt;đại cục&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;  (?)”, cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn  của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận  ải Nam Quan, trước nay&amp;nbsp; ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà  Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân  Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc. Trước đây, đã có  hiệp định Pháp – Thanh phân chia vịnh Bắc Bộ. Trung Quốc không chịu chấp  nhận việc do lịch sử để lại, đòi phân chia lại, kỳ chiếm cho được phần  hẩu về mình.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, từ xa xưa đã có văn bản  lịch sử là do ta quản lý, ngay trong bản đồ do tướng Đặng Chung, Phó  Tổng binh trấn thủ đảo Quỳnh Nhai (đảo Hải Nam ngày nay) vẽ cũng ghi các  đảo đó thuộc về An Nam (tức Việt Nam); về mặt pháp lý thì cũng nằm  trong hải phận và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta theo luật biển mà  Liên Hợp Quốc ban hành. Thư tịch Trung Quốc không hề có tí gì làm chứng  cứ, họ chỉ to mồm nhận xí hai quần đảo là của họ, thậm chí trên bản đồ  nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, họ đơn phương vẽ một “cái lưỡi bò to  tướng” bao gồm cả một vùng biển quốc tế và phần lãnh hải, vùng kinh tế  đặc quyền của Việt Nam trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật là  trong thời kỳ Pháp cai trị nước ta thì quân Pháp đóng giữ trên đảo Hoàng  Sa, thời kỳ Việt Nam cộng hòa thì quân đội Việt Nam cộng hòa đóng giữ.  Năm 1974, Trung Quốc bất ngờ đem quân mạnh hơn đánh giết quân Việt Nam  cộng hòa và chiếm lấy Hoàng Sa, còn lăm le chiếm nốt quần đảo Trường Sa  của chúng ta. Họ xây dựng cột mốc ở bãi đá ngầm Vĩnh Thực. Họ tuyên bố  lập huyện &lt;strong&gt;&lt;em&gt;Tam Sa&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt; bao gồm nốt Trường Sa. Họ  ngăn cản các công ty dầu khí của Anh, Mỹ liên doanh thăm dò khai thác  với ta. Gần đây họ khoanh một vùng trong lãnh hải và vùng đặc quyền kinh  tế của ta, cấm ngư dân ta đánh cá, thuyền của ngư dân ta ra đánh cá thì  họ bắt và bắn. Ngày 16/8/2009, hải quân Trung Quốc tập trận ở biển  Đông, có ý định giễu võ dương oai đe dọa ta và các nước có liên quan đến  biển đảo.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Sông Mê Kông phát nguyên từ cao nguyên Thanh -Tạng chảy qua 6  nước: Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam. Trung  Quốc ở thượng lưu đã và sẽ xây mười mấy đập chặn mất khối lượng nước  khổng lồ, bất chấp lợi ích của những nước còn lại. Đặc biệt về mùa khô  Nam Bộ của Việt Nam sẽ thiếu nước tưới và nuôi cá, nước biển sẽ dâng sâu  vào nội địa nhiều tỉnh, thành, không biết đồng bào ta sẽ sống ra sao  bởi tư tưởng ích kỷ nước lớn của những người cầm quyền Trung Quốc?!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Từ trước đến nay, những người nắm quyền ở Trung Quốc “&lt;strong&gt;&lt;em&gt;hữu  nghị&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;” với ta là như thế đấy!!! Thế mà từ khi hai nước lập  lại quan hệ bình thường, những người lãnh đạo Trung Quốc nêu lên để hai  bên cùng thực hiện hai mệnh đề: “&lt;strong&gt;&lt;em&gt;16 chữ vàng…&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;”  và “&lt;strong&gt;&lt;em&gt;4 tốt…&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;” nào là láng giềng hữu nghị, hợp  tác toàn diện…, đồng chí tốt, bè bạn tốt…; lời nói thì tốt đẹp, chữ  nghĩa thì hay, nhưng thực chất đó là “&lt;strong&gt;&lt;em&gt;hữu nghị lừa phỉnh,  hợp tác ăn người, đồng chí móc ruột, bạn bè mất vợ&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;”.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Làm Đại sứ nước ta tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 13 năm, tôi thể  hội được mấy điều sau đây:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Tư tưởng bành trướng, bá quyền, ích kỷ nước lớn của những người  cầm quyền ở Trung Quốc 1.000 năm nữa vẫn không hề thay đổi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Chớ vội tin lời của những người nắm quyền ở Trung Quốc nói, hãy  xem những việc họ làm.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Nhiều khi ở cấp cao của họ nói với cấp cao của ta lời lẽ rất ôn  hòa có vẻ vô tư, biết điều, nhưng lại ngầm chỉ đạo cho cấp dưới cứ lấn  tới, giọng lưỡi bề trên, đe dọa, để đạt yêu cầu của họ, thiệt hại cho  ta.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Trong nước Trung Quốc có 100 mỏ bốc-xít, họ đắp chiếu để đấy,  không khai thác để khỏi ảnh hưởng môi trường và để dành tài nguyên cho  mai sau. Họ vào khai thác bốc-xít ở Tây Nguyên (tất nhiên được lãnh đạo  nước ta thỏa thuận), hủy hoại môi trường Tây Nguyên, lợi thì họ hưởng,  chất độc bùn đỏ thì đồng bào Nam Trung Bộ và Nam Bộ của nước ta hứng  chịu. Họ lại chiếm lĩnh được địa bàn chiến lược xung yếu bậc nhất khả dĩ  khống chế được cả 3 nước Đông Dương.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ở đồng bằng ven biển nước ta, những công trình mà Trung Quốc trúng  thầu, theo luật thì phải mua nguyên vật liệu ở tại nước sở tại, dùng  lao động tại chỗ, nhưng Trung Quốc cứ đưa lao động của họ vào. Ngoài ra  lại có rất nhiều người Trung Quốc ùa vào một cách tự do (không hiểu sao  chính quyền của ta lại để cho họ vào dễ dàng đến thế?).&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Gần đây lại có thông tin các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, có cả Thanh  Hóa bán cho Trung Quốc (hoặc cho thuê 50 năm)&amp;nbsp; hàng vạn ha rừng để họ  trồng nguyên liệu. Thế là từ một loạt vị trí trên rừng và một dải đồng  bằng ven biển xuyên suốt Bắc Nam, hàng vạn người Trung Quốc được rải ra.  Nguy hiểm quá!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;II. Ta nên xử sự thế nào?&lt;/strong&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chúng ta là nước nhỏ luôn muốn sống yên ổn bên cạnh nước láng  giềng lớn hơn ta rất nhiều lần. Ông cha ta không hề khiêu khích Trung  Quốc, toàn phải bắt buộc đánh trả để giữ độc lập của mình, thường còn  phải triều cống các Hoàng đế Trung Quốc. Chúng ta mất một ít ngà voi,  sừng tê, ngọc trai và những đặc sản quý khác, nhưng như hai câu cuối bài  thơ của Lý Thường Kiệt: “… &lt;em&gt;Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / &amp;nbsp;Nhữ  đẳng hành khan thủ bại hư&lt;/em&gt;” để bảo cho họ là đừng đụng đến độc lập  của Việt Nam!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hồ Chủ tịch đã nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chúng ta  phải mất xương máu của hàng triệu quân dân yêu nước, của nhiều thế hệ  mới giành được nền độc lập toàn vẹn hôm nay. Trong bất kỳ tình hình nào  cũng phải quyết giữ lấy không để biến nước ta thành thuộc địa kiểu mới  của người ta. Cũng như ông cha, chúng ta không hề khiêu khích Trung  Quốc, không hề xâm phạm lợi ích chân chính của họ. Chúng ta cũng cần  chung sống hòa bình, hữu nghị với Trung Quốc trên tinh thần bình đẳng,  tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. Chúng ta cũng sẵn sàng hợp tác  kinh tế với Trung Quốc trên tinh thần sòng phẳng, hai bên cùng có lợi,  không phương hại đến an ninh quốc gia của chúng ta.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Chúng ta cũng muốn giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao… với  Trung Quốc làm cho nhân dân hai nước hiểu nhau, tạo nên mối thân thiện  láng giềng giữa nhân dân hai nước.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hữu nghị, hợp tác khi cần vẫn có đấu tranh. Khi những nhà nắm  quyền Trung Quốc có hành động gây thiệt hại cho ta, ta phải đấu tranh  bằng chính trị, ngoại giao, bằng báo chí, bằng dư luận… Không thể cứ nín  nhịn mãi, không phải e sợ gì; không được bắt dân nín nhịn nó hèn hạ tư  cách con người đi.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tuy Trung Quốc có thế mạnh là nước lớn, dân đông, lực lượng kinh  tế hùng hậu, lực lượng quân sự mạnh, lãnh đạo của họ khôn khéo, thâm  hiểm lắm mưu nhiều kế, song họ cũng có nhiều điểm yếu: giữa nhân dân với  lãnh đạo họ cũng đầy mâu thuẫn; Tân Cương, Tây Tạng luôn tiềm ẩn sự bất  ổn; tư tưởng bành trướng bá quyền của họ thế giới đều biết, không được  ai đồng tình; Các nước ASEAN đều lo phòng bị, nhiều nước châu Phi cũng  đã tỉnh ngộ, thấy dã tâm của nhà cầm quyền Trung Quốc; Trung Quốc tự ý  khoanh vùng vi phạm luật biển, ai ưa. Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa mà công  khai ra quốc tế thì họ thất thế, vì theo thư tịch thì họ không có một  tí cứ liệu nào, dư luận thế giới đứng về ta; họ ngăn cản Anh, Mỹ liên  doanh thăm dò dầu khí tại vùng biển Đông thuộc Trường Sa của Việt Nam  cũng gây cho hai nước này bực tức; tuy vẫn làm ăn với nhau, nhưng giữa  Mỹ – Nhật một bên với Trung Quốc vẫn tiềm ẩn mâu thuẫn.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hòn đảo Cu-ba nhỏ bé ngay trước mũi nước Mỹ hùng mạnh, 40 năm nay  vẫn tồn tại là một nước độc lập; Triều Tiên vài năm nay rất căng với Mỹ  và Hàn Quốc mà Mỹ cũng không dám tùy tiện tiến hành chiến tranh đánh họ;  đánh I-rắc, Mỹ sa lầy sẽ phải rút ra. Trong tình hình thế giới hiện nay  không dễ gì những người nắm quyền Trung Quốc tùy tiện phát động chiến  tranh xâm lược nước ta, ta có chính nghĩa dư luận thế giới ủng hộ. Hơn  nữa trong cuộc “dạy cho Việt Nam một bài học” năm 1979, số quân Trung  Quốc thương vong không phải nhỏ.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Để giữ vững độc lập chủ quyền, ngăn chặn những mưu đồ của những  người nắm quyền Trung Quốc xâm lấn nước ta, ta phải tự mình thay đổi  tình hình nội bộ hiện nay của ta:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;1&lt;/strong&gt;. Cần ban lãnh đạo trong sạch, gương mẫu, có tầm  nhìn xa, có bản lĩnh, có lòng tự tôn dân tộc, có dũng khí, thật lòng vì  nước vì dân.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;2&lt;/strong&gt;. Kiên quyết chống tham nhũng mà chống đây là &lt;strong&gt;&lt;em&gt;chống&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;  &lt;strong&gt;&lt;em&gt;thật&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt; (không phải trên lời nói và trên văn  bản), kết hợp với chỉnh đốn Đảng, loại trừ những Đảng viên thoái hóa  biến chất, cơ hội, nhất là những kẻ đương quyền đương chức, chui sâu leo  cao rất nguy hiểm, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh đúng là Đảng Cộng  sản chân chính của Bác Hồ, để lấy lại lòng tin của dân.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;3&lt;/strong&gt;. Thực hiện dân chủ trong Đảng, ngoài xã hội để  tạo được sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân “thật sự là thế trận lòng dân”.  Áp đặt, ép buộc, cấm đoán không bao giờ có đoàn kết mà chỉ tạo nên bất  bình, phản kháng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;4&lt;/strong&gt;. Trên cơ sở lắng nghe Đảng viên, lắng nghe dân,  lắng nghe trí thức mà để ra chủ trương chính sách đúng đắn, làm cho Tổ  quốc vững mạnh và phát triển, dân no đủ, &lt;strong&gt;có dân chủ, tự do, hạnh  phúc&lt;/strong&gt; thì đó là công tác tư tưởng mạnh nhất, hiệu quả nhất. Chủ  trương, chính sách không hợp lòng dân, hại cho đất nước thì dù có tuyên  truyền tô vẽ bao nhiêu cũng chỉ như nước đổ lá khoai.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;5&lt;/strong&gt;. Cần đầu tư tăng cường lực lượng quốc phòng, có  phương tiện, vũ khí hiện đại đến mức cần thiết, tăng thêm sức mạnh cho  các quân chủng chủ yếu là hải quân để có sức tự vệ. Dù sao thì lực lượng  quân sự của chúng ta vẫn là nhỏ bé, nhưng từ xưa đến nay chúng ta đã có  truyền thống “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu thắng  mạnh”. Tinh thần quật cường bất khuất, khối đoàn kết toàn dân, trí tuệ  và nghệ thuật quân sự Việt Nam vẫn là sức mạnh của chúng ta.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh &lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-5898011662284351266?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/5898011662284351266/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=5898011662284351266' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5898011662284351266'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5898011662284351266'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2010/03/nen-xu-ly-quan-he-viet-trung-nhu-nao.html' title='Nên xử lý quan hệ Việt – Trung như thế nào?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-5108720509981444225</id><published>2010-03-16T10:03:00.002+07:00</published><updated>2010-03-16T10:03:45.837+07:00</updated><title type='text'>Tại sao các tỉnh lại làm liều như vậy?</title><content type='html'>&lt;b&gt;Việc 10 tỉnh tự ý cho người nước ngoài thuê 300 ngàn ha rừng là sai,   tham mấy đồng bạc còm cõi để dâng đất đai lãnh thổ cho người nước ngoài   là đáng khép vào tội nặng. Còn hỏi tại sao họ lại làm liều như vậy thì   tôi xin thưa: Có hai lý do rất quan trọng. &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;Thứ nhất&lt;/strong&gt; là mấy&amp;nbsp;ông&amp;nbsp;QUAN TỈNH&amp;nbsp;đó không khác  gì các  VUA MÈO khi xưa, thích&amp;nbsp;ăn chơi sa&amp;nbsp;đọa như cái&amp;nbsp;ông&amp;nbsp;Chủ tịch UBND  Tỉnh Hà  Giang chẳng hạn, các ông còn bận đi chơi bời lăng nhăng&amp;nbsp;với các  cháu gái  học sinh cấp hai chưa trưởng thành, rồi sau&amp;nbsp;đó lại bận cấu  kết với tay  chân thân tín&amp;nbsp;đổ vấy&amp;nbsp;tất tật cho anh chàng Hiệu trưởng ngu  xuẩn thì còn  còn&amp;nbsp;đâu minh mẫn sáng suốt&amp;nbsp;để nhận ra mối nguy hại giao  giang sơn cho kẻ  lạ nữa?!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;Thứ hai&lt;/strong&gt; TẠI CƠ CHẾ QUẢN LÝ ĐẤT.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Cơ chế trước kia thì chặt chẽ quá, kìm hãm phát triển. Cơ chế nay  lại  lỏng lẻo quá. Cơ chế&amp;nbsp;mà thay&amp;nbsp;đổi vô tội vạ thì&amp;nbsp;ở&amp;nbsp;đâu cũng có hành  vi  xấu của những kẻ xấu luồn lách&amp;nbsp;lợi dụng cơ chế để làm bậy. Chuyện  này  thì không chỉ&amp;nbsp;ở&amp;nbsp;đất rừng biên giới heo hút của các VUA MÈO, mà  ngay&amp;nbsp;ở  Thủ&amp;nbsp;đô văn minh cũng có chuyện&amp;nbsp;tương tự.&lt;span id="more-2861"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tôi xin chứng minh:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Hơn 12 năm trước,&amp;nbsp;ngày 18/2/1998&amp;nbsp; Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc ký   quyết&amp;nbsp;định số 105/QDD-TTg phê duyệt Dự&amp;nbsp;án Thủy cung Thăng Long và chọn   Công ty TNHH Vạn Thiện làm chủ&amp;nbsp;đầu tư.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;- Ngày 5/5/1998&amp;nbsp;Phó&amp;nbsp;Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ký quyết&amp;nbsp;định số   385/QDD-TTg cho Công ty Vạn Thiện thuê 21 ha&amp;nbsp;đất và mặt nước&amp;nbsp;ở Hồ Tây&amp;nbsp;để   làm dự&amp;nbsp;án nói trên.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Như vậy là chỉ có 21 ha&amp;nbsp;đất mà hai&amp;nbsp;ông Phó Thủ tướng đã phải hạ  bút  ký. Tuy là phải thuyết phục&amp;nbsp;để thay&amp;nbsp;đổi hai quyết&amp;nbsp;định của hai&amp;nbsp;ông   Phó&amp;nbsp;Thủ tướng, chúng tôi&amp;nbsp;đã phải&amp;nbsp;đấu tranh khá chật vật, nhưng&amp;nbsp;đối  tượng  duy nhất mà chúng tôi cần thuyết phục là Thủ tướng Phan Văn Khải.  Ngày  26/3/1999 Thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết&amp;nbsp;định thu hồi hai  quyết&amp;nbsp;định  105 và 385 của hai ông phó kia, thế là xong.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Hiện nay cơ chế nới lỏng và nguy hiểm hơn nhiều: Không biết từ bao   giờ Hà Nội&amp;nbsp;đã duyệt Dự&amp;nbsp;án TÂY HỒ TÂY 847 ha, trong đó có nhiều nội  dung:&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 4/4/2008 báo &lt;em&gt;Hà Nội mới&lt;/em&gt; công bố phê duyệt DỰ&amp;nbsp;ÁN&amp;nbsp;TÂY  HỒ  TÂY 210ha ĐẦU TƯ 100%&amp;nbsp;VỐN HÀN QUỐC MANG PHONG CÁCH HÀN QUỐC.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tôi soi bản&amp;nbsp;đồ vệ tinh và đọc&amp;nbsp;được TRỤC LINH MẠCH 21&amp;nbsp;độ 3′ 28”   qua&amp;nbsp;đây, ngay cạnh bên rốn sâu nhất của Hồ Tây có mạch ngầm thông với   sông Hồng.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;VỊ TRÍ NÀY LÀ LINH HUYỆT RẤT QUAN TRỌNG CỦA VÙNG NÃO THỦY THĂNG  LONG,  KHÔNG BAO GIỜ&amp;nbsp;ĐƯỢC&amp;nbsp;DÙNG&amp;nbsp;ĐỂ XÂY CÁC CÔNG TRÌNH LÀM&amp;nbsp;ĂN BUÔN BÁN,  MƯU MẸO,  LỪA LỌC LẪN NHAU, MÀ PHẢI LÀ NƠI&amp;nbsp;ĐÀO TẠO NGƯỜi TÀI, NƠI NGHỈ  NGƠI DI  DƯỠNG TINH THẦN, TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, NƠI THỜ  CÚNG&amp;nbsp;HOẶC NƠI&amp;nbsp;ĐỂ  CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ NGHIÊN CỨU VỀ SÁCH LƯỢC TRỊ QUỐC.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 21/5/2009 tôi gửi thư&amp;nbsp;Email&amp;nbsp;đến UBND,&amp;nbsp;đến Thành&amp;nbsp;ủy và&amp;nbsp;đến báo  &lt;em&gt;Hà  Nội mới&lt;/em&gt; thông báo chuyện&amp;nbsp;đó.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Khoảng 3 ngày sau khi tôi gửi&amp;nbsp;đến UBND thành phố, một người bạn&amp;nbsp;ở  VP  UBND thành phố&amp;nbsp;Reply cho&amp;nbsp;tôi: “Tài liệu của chị làm chúng em sửng  sốt”.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Ngày 9/7/2009&amp;nbsp;ông Chủ tịch UBND thành phố tuyên bố “TT Hành chính   Quốc gia&amp;nbsp;ở Tây&amp;nbsp;Hồ Tây”, Thế nhưng sau khi Tổng thống Hàn quốc sang thăm   Việt Nam, không hiểu thương lượng thế nào&amp;nbsp;đó,&amp;nbsp;mà 210 ha&amp;nbsp;đó lại là trở  về  dự án của người Hàn quốc… còn TT Hành chính Quốc gia thì phải&amp;nbsp;đi vào   Phú Diễn chán, rồi vào Hòa Lạc, nay lại vào chân núi Ba Vì. Thật mỉa  mai  và nực cười. Hai nội dung&amp;nbsp;trên không bao giờ&amp;nbsp;được mang ra so sánh  với  nhau!&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Đây là chuyện cực kỳ hệ trọng. Việc này mà khinh&amp;nbsp;suất thì chưa   biết&amp;nbsp;đại họa gì sẽ xẩy ra.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;&lt;strong&gt;TTV&lt;/strong&gt;&lt;/b&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-5108720509981444225?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/5108720509981444225/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=5108720509981444225' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5108720509981444225'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/5108720509981444225'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2010/03/tai-sao-cac-tinh-lai-lam-lieu-nhu-vay.html' title='Tại sao các tỉnh lại làm liều như vậy?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-809224711304520965</id><published>2009-12-30T11:55:00.000+07:00</published><updated>2009-12-30T11:55:59.817+07:00</updated><title type='text'>Nguy cơ hiển hiện từ cách làm "ăn xổi"</title><content type='html'>&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Trong 25 năm kể từ khi tiến hành Đổi Mới, kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng: chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh về giá lao động rẻ (trình độ tay nghề thấp, ít hàm lượng kỹ thuật, thậm chí một bộ phận đáng kể là lao động cơ bắp); khai thác tài nguyên thiên nhiên, (3)đẩy mạnh đầu tư từ các nguồn trong nước và nước ngoài cho phát triển một nền kinh tế sử dụng nhiều lao động giá rẻ và tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên, (4)sử dụng lãng phí đất đai và không thân thiện với môi trường.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nhìn chung trong suốt thời kỳ này nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, song chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp so với công sức bỏ ra và so với những cái giá phải trả. Đại hội X đã phê phán tình trạng yếu kém của mô hình phát triển theo chiều rộng.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;img alt="" class="center" height="230" src="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/than4.jpg" title="" width="430" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Mối lo lớn nhất là sau ¼ thế kỷ tăng trưởng và phát triển kể từ khi đổi mới, nước ta cho đến nay vẫn chỉ là người cung cấp lao động rẻ, nông phẩm thô, nguyên liệu thô hoặc sơ chế thấp, sản phẩm gia công, sản phẩm chế tạo với hàm lượng công nghệ thấp, đất đai và thị trường nội địa trở thành nơi thu hút FDI chủ yếu cho công nghiệp có hàm lượng công nghệ thấp và gây nhiều gánh nặng cho môi trường tự nhiên và xã hội...&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="right" border="0" style="background-color: #f5fdfe; width: 270px;"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         &lt;i&gt;&lt;span style="color: #333333;"&gt;Trong thập kỷ tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhất thiết đòi hỏi phải có tầm nhìn thấu đáo cục diện thế giới - với lý tưởng lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia là duy nhất và trên hết, để có đủ trí tuệ và bản lĩnh tạo ra cho đất nước bên trong là sự đồng thuận không gì phá vỡ được, bên ngoài là một bối cảnh hòa bình tối ưu cho phép.&lt;/span&gt;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Với chiến lược phát triển dựa vào 4 yếu tố như vậy, thế mạnh lớn nhất và nguồn lực nội tại lớn nhất của đất nước là con người Việt Nam không được phát huy. Trên thực tế nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành &lt;i&gt;một nước đi làm thuê&lt;/i&gt; và &lt;i&gt;đất nước cho thuê&lt;/i&gt; với cả nghĩa đen và nghĩa bóng.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Với GDP tính theo đầu người hiện nay đạt khoảng 1000 USD - tăng khoảng 10 lần so với khi bước vào đổi mới, nước ta mới ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Hiện tại nền kinh tế nước ta phát triển ở mức thấp trên các phương diện: trình độ lao động, hàm lượng công nghệ, năng lực kinh doanh, năng lực quản lý đất nước, hiệu quả kinh tế, sự phát triển của con người, của văn hóa, xã hội và của toàn bộ hệ thống chính trị...&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nhìn chung sau 25 năm vẫn chưa thấy hình hài của một nền kinh tế công nghiệp hóa, càng chưa thể hình dung một quốc gia công nghiệp Việt Nam trong vòng một hai thập kỷ tới sẽ ra sao. Điều này có nghĩa vào năm 2020, thời điểm hoàn thành mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, nước ta sẽ vẫn còn đứng cách rất xa các chỉ tiêu của một nước được coi là hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Một quốc gia hoàn thành thời kỳ công nghiệp hóa còn phải được nhìn nhận theo các tiêu chí của một xã hội công nghiệp. Trên phương diện này, phải nói nước ta còn khá lạc hậu so với một nước công nghiệp hóa và so với thế giới chung quanh về nhiều mặt: dân trí, tính công khai minh bạch, xã hội dân sự, năng lực, tính trách nhiệm và tính tin cậy được (accountability) của bộ máy nhà nước, đặt Hiến pháp và pháp luật lên trên hết, khả năng đề kháng hay khắc phục những tha hóa mới về nhiều mặt nhiễm phải trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng lạc hậu và đi sai hướng của hệ thống giáo dục với những hệ quả lâu dài và khó lường cho tương lai...&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nói một cách hình ảnh: Đến năm 2010, sau ¼ thế kỷ đổi mới, nước ta có lẽ mới chỉ đi được khoảng 1/3 hay một nửa đầu của toàn bộ chặng đường công nghiệp hóa mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Từ nay đến năm 2020 có cách nào "đi" hay "bay" nốt 2/3 hay một nửa chặng đường còn lại không? Dứt khoát không! Thậm chí "đi" hay "bay" tiếp tục như hiện nay, sẽ rất khó có một nước Việt Nam công nghiệp hóa trong vòng ba bốn thập kỷ tới, hoặc không bao giờ!&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;Không để bị ru ngủ mãi&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Sau 25 năm công nghiệp hóa, nước ta có một nền kinh tế còn nhiều đặc tính manh mún, bóc ngắn cắn dài, tranh thủ được cái gì thì làm cái nấy, và nhìn chung là ngày càng có những mất cân đối lớn, ngày càng đi sâu vào một cơ cấu kinh tế lạc hậu và ô nhiễm môi trường nặng nề! Hơn nữa tính mất cân đối,&amp;nbsp; tính lạc hậu này và tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới ranh giới chịu đựng cuối cùng.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Xin đơn cử một vài ví dụ:&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;img alt="" class="left" height="270" src="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/than1.jpg" title="" width="262" /&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Xuất khẩu than, dầu, gạo và nhiều sản phẩm khác đã tới đỉnh của khả năng cho phép, không thể vượt qua được, thậm chí tiếp tục duy trì những cái "đỉnh" này có thể dẫn tới thảm họa.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Ô nhiễm môi trường và sử dụng đất đai lãng phí đã tới mức nguy hiểm, trong khi dân số tiếp tục tăng, ruộng đất ngày càng khan hiếm.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Cơ cấu kinh tế lạc hậu và nhiều chính sách kinh tế - xã hội hiện nay chẳng những có thể lọai bỏ cơ may mà "cơ cấu dân số vàng" của chúng ta (tỷ lệ người trong tuổi lao động chiếm quá nửa hoặc gần gấp đôi số người sống phụ thuộc) có thể đem lại cho đất nước. Thậm chí "cơ cấu dân số vàng" này có thể biến thành mối đe dọa lớn vì nạn thất nghiệp và sự xuống cấp của xã hội đang trở nên nghiêm trọng.&lt;br /&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Hiện nay vì những yếu kém về nhiều mặt trong thu hút FDI, nước ta hàng năm phải tìm cách xuất khẩu một lượng lao động lớn, đang trở thành địa điểm cho nước ngoài thuê để làm ra các sản phẩm tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng và gây ô nhiễm moi trường. Nói gắn gọn, nước ta về nhiều mặt thực chất đang là nước đi làm thuê và là đất nước cho thuê.&lt;br /&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Nhập siêu và thâm hụt ngân sách cứ tiếp tục như hiện này sẽ hứa hẹn những đổ vỡ lớn trong tầm tay.&lt;br /&gt;o&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp;&amp;nbsp; Càng nhiều đô thị hiện đại mọc lên do đầu tư nước ngoài, nhưng sự phát triển những mặt khác nếu không phát triển đồng bộ (nhất là luật pháp, năng lực hành chính, các chính sách kinh tế, các ngành dịch vụ, nguồn nhân lực, các ngành cung ứng...) thì sẽ hoặc là thất bại lớn, hoặc biến thành các dự án treo, thành đầu cơ đất đai và tạo ra nhiều nguy cơ khác nữa.&lt;br /&gt;Xin đừng để những lời khen vàng ngọc của nước ngoài về "tính năng động", về "triển vọng tốt đẹp" của kinh tế Việt Nam, về "khả năng hấp dẫn" của thị trường Việt Nam, "Việt Nam là nền kinh tế đang lên", về vân vân... ru ngủ chúng ta.&lt;br /&gt;Cứ cho những lời khen ấy là thực bụng, thì cũng đừng quên họ nhìn Việt Nam về nhiều mặt đang là thị trường tốt nhất để đưa tới những thứ họ đang muốn loại bỏ ở nước họ hoặc những thứ các nơi đang thừa ế và muốn tống khứ. Các dự án đóng tàu, dự án thép và xi-măng khổng lồ là những ví dụ tiêu biểu, chưa nói đến hàng trăm sân golf...&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Càng phát triển, càng ách tắc&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại, tình hình phát triển kinh tế 25 năm qua cho thấy mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng đã đi trọn vòng đời của nó. Điều này thể hiện tập trung nhất ở chỉ số lạm phát và chỉ số ICOR của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng cao và thuộc loại cao nhất ở châu Á, đồng thời lạm phát vượt xa mức tăng trưởng.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Nói nôm na đấy là hiện tượng: Tiền của công sức bỏ ra ngày càng nhiều, hiệu quả kinh tế thu được có tỷ lệ ngày càng thấp. Kéo dài tình trạng này sẽ kiệt sức.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;table border="1"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         &lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         Tăng trưởng GDP&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         Tỷ lệ lạm phát&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         Chỉ số ICOR&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         2006&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         8,17%&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         7,7%&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         5,0&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         2007&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         8,48&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         12,6&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         5,2&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         2008&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         6,23&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         19,89&amp;nbsp;&amp;nbsp; (22,97)*&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         6,9&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;       &lt;td&gt;         2009**&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         5,2&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         9,4&lt;br /&gt;&lt;/td&gt;        &lt;td&gt;         &lt;br /&gt;&lt;/td&gt;     &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;div style="text-align: right;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;i&gt;Nguồn: Tổng cục Thống kê *IMF &amp;amp; EIU **Dự báo&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Càng phát triển, nền kinh tế càng tích tụ nhiều ách tắc hay mất cân đối mới. Những hiện tượng ách tắc này được đặt dưới cái tên gọi chung là những thắt cổ chai. Đó là những mất cân đối ngày càng gay gắt:&lt;br /&gt;&lt;ul type="disc"&gt;&lt;li&gt;giữa khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế; giữa sự phát triển yếu kém nguồn nhân lực và đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;giữa khả năng quản trị quốc gia và đòi hỏi phát triển của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, tình trạng quan liêu và nạn tham nhũng, khả năng yếu kém trong thực thi pháp luật...;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;đặc biệt là tình trạng nhập siêu và tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng: Nhập siêu từ năm 2000 ngày càng lớn và được coi là ở mức báo động.&amp;nbsp; Kể từ năm 1995 đến 2005, nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức dưới 5 tỷ USD và ước khoảng 10% GDP;&amp;nbsp; song đã tăng vọt lên trên 12 tỷ USD vào năm 2007 (gấp 2,4 lần so với năm 2006) và đến hết tháng 9/2008, tổng mức nhập siêu đã lên tới con số 15,8 tỷ USD (ước khoảng trên 20% GDP/năm)...&amp;nbsp; Nếu phân tích&amp;nbsp; các quốc gia ta nhập siêu, sẽ thấy bức tranh trầm trọng hơn (chủ yếu từ Trung Quốc và các nước châu Á - là các quốc gia có công nghệ thấp). Thâm hụt ngân sách từ năm 2000 trung bình là 5-6% GDP/năm, riêng năm 2009 dự kiến là 8% GDP/năm.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;giữa một bên là năng lực và chất lượng trong việc hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển.., và một bên là đòi hỏi phát triển mọi mặt đất nước.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;Hệ quả lớn nhất của tình trạng càng phát triển càng tích tụ ngày càng nhiều ách tắc và mất cân đối lớn là hầu như cản trở mọi chiến lược hay chủ trương phát triển có tính dài hạn.&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Mới dừng ở công nghiệp hóa "gặp gì làm nấy"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Nội dung công nghiệp hóa trên thực tế đã tiến hành 25 năm qua chủ yếu được xác định qua các chỉ số tăng trưởng đặt ra cho các kế hoạch 5 năm theo các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), thiếu hẳn việc xác định nội dung cụ thể công nghiệp hóa về một số ngành và sản phẩm kinh tế mà quá trình công nghiệp hóa phải từng bước giành được cho các thị trường ngách hoặc thị trường mới. Nói một cách khác đấy là cách hoạch định công cuộc công nghiệp hóa về mặt số lượng.&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;img alt="" class="center" height="275" src="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thep-cat-da.jpg" title="" width="443" /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;Việt Nam thiếu hẳn chiến lược, kế hoạch và các quy hoạch cụ thể phát triển kết cấu hạ tầng đi song song hoặc đi trước một bước mở đường cho sự tiến triển của công nghiệp hóa với nội dung khai thác thị trường ngách và chiếm thị trường mới.&lt;br /&gt;Chúng ta cũng thiếu hẳn chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà sự nghiệp công nghiệp hóa/ hiện đại hóa đất nước đòi hỏi, thậm chí có thể nói hệ thống giáo dục và chính sách phát triển nguồn nhân lực hiện nay là hoàn toàn bất cập, trực tiếp gia tăng sự tụt hậu của đất nước và để lại nhiều hệ quả lâu dài.&lt;br /&gt;Ta chỉ đề ra yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các chỉ số số lượng cần đạt được cho tỷ trọng các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), song trong thực tế&amp;nbsp; thiếu rất nhiều chính sách vĩ mô hỗ trợ quá trình chuyển đổi này, những chính sách vĩ mô hiện có không đáp ứng được đòi hỏi này. Các Đại hội đều phê phán là cơ cấu kinh tế chuyển đổi rất chậm, nhưng đến nay chưa có kế sách gì đảo ngược tình hình này.&lt;br /&gt;Đặc biệt nghiêm trọng là các Đại hội Đảng đều thừa nhận cải cách chính trị không đi kịp với đòi hỏi của phát triển kinh tế và xã hội, do đó chẳng những không thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, không phát huy được cái mạnh và những thuận lợi của đất nước. Thậm chí, nó làm cho quá trình này chậm lại. Trong quá trình thực hiện, các kế hoạch 5 năm thường bị thiên lệch, biến tướng khá xa.&lt;br /&gt;Nói ngắn gọn, cho đến nay mới chỉ có chủ trương hay mong muốn công nghiệp hóa với cái đích phải đạt được vào năm 2020; nghĩa là thiếu hẳn một chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đồng bộ, xuyên xuốt và có hiệu quả cho mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa.&lt;br /&gt;Tất cả những điều vừa trình bày toát lên một sự thật: Nước ta sau 25 năm trên thực tế vẫn chưa có một chiến lược công nghiệp hóa đúng với cái tên gọi của nó. Quá trình công nghiệp hóa cho đến nay diễn ra hầu như dưới dạng một chuỗi các kế hoạch 5 năm cộng lại, và rất khó nói rằng những kế hoạch 5 năm này được thiết kế theo một quan điểm chiến lược công nghiệp hóa xuyên xuốt.&lt;br /&gt;Thực tế đã diễn ra chủ yếu là: tranh thủ làm được gì làm nấy, gặp gì làm nấy, không ít tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giẫm đạp lên nhau - tỉnh anh có xi măng lò đứng, tỉnh tôi cũng có; tỉnh anh có nhà máy mía đường, tỉnh tôi không kém tỉnh anh; tỉnh anh có khu công nghiệp, tỉnh tôi cũng không thua...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua chủ yếu do sự lôi kéo, sức đẩy và sự dẫn dắt tự thân của cuộc sống và tác động của đầu tư và dòng vốn từ bên ngoài, nhiều hơn là do sự thúc đẩy theo một hướng chiến lược được xác lập của hệ thống chính trị và do sự giác ngộ với tầm nhìn sắc bén của những người lãnh đạo.&lt;br /&gt;Cần nói ngay, phát triển như thế đang tạo ra nguy cơ lệ thuộc (chứ không phải phụ thuộc lẫn nhau, cũng không phải "win-win") ngày càng nguy hiểm&lt;br /&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;&lt;b&gt;Đổi mới thể chế chưa theo kịp đổi mới kinh tế&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Hơn nữa, nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua chưa đặt ra vấn đề phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của&amp;nbsp; nước ta là con người Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Các Đại hội Đảng nhấn mạnh coi con người là trung tâm, song lại hiểu vấn đề này chủ yếu theo những khía cạnh phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội. Trên thực tế triển khai, chưa thể nói con người đã trở thành trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội. Càng chưa thể nói con người là đối tượng trung tâm được phục vụ của mọi nỗ lực của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin nhấn mạnh: quan điểm coi con người là trung tâm như vậy và quan điểm phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;Có lẽ sự thiếu vắng một chiến lược công nghiệp hóa dựa trên phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất này của đất nước là một trong các tác nhân chính khiến cho quá trình và nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua nặng về chạy theo số lượng, chứ không phải là chất lượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự thiếu vắng quan điểm chiến lược cực kỳ hệ trọng này đã xô đẩy quá trình công nghiệp hóa chủ yếu chạy theo số lượng rất khó cưỡng lại; qua đó công nghiệp hóa rơi vào tình trạng bước trước không chuẩn bị được bao nhiêu cho bước tiếp theo, càng phát triển cơ cấu kinh tế càng khó chuyển dịch. Tình trạng này đồng thời cũng tăng thêm sự hụt hẫng và trì trệ trong đổi mới thể chế chính trị - xã hội theo yêu cầu phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;b&gt;"Lời nguyền tài nguyên"&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua có khuynh hướng càng đi sâu vào kinh tế thượng nguồn: khai thác khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác, phát triển sản phẩm thô, giá trị gia tăng rất thấp, duy trì công nghệ lạc hậu, cái giá phải trả cho hủy hoại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội rất cao...&lt;br /&gt;Đặc biệt là trong các "nền kinh tế GDP tỉnh", hầu như tất cả các tỉnh có khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên thì đều coi đấy là thế mạnh của mình và ra sức khai thác bừa bãi; có nơi Thủ tướng đã phải ra lệnh đình chỉ.&lt;br /&gt;Phát triển kinh tế thượng nguồn là điều khó tránh khỏi ban đầu đối với một nước nghèo và lạc hậu. Song sai lầm là ở chỗ muốn lấy phát triển kinh tế thượng nguồn làm cú hích và nguồn tích tụ vốn cho công nghiệp hóa, thậm chí coi kinh tế thượng nguồn là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, tại nhiều vùng trong nước đã và đang xảy ra phát triển kinh tế thượng nguồn với bất kỳ giá nào.&lt;br /&gt;Cũng phải nói rõ thêm, nhiều tỉnh bí quá không biết làm gì thì bóc rừng và bóc khoáng sản để lãnh đạo tỉnh "thi đua" trong việc tạo thành tích thay đổi tỷ trọng cơ cấu trong "nền kinh tế GDP tỉnh" của mình, nhân dân tại chỗ chịu thêm nhiều thiệt hại và nhà nước hầu như không được lợi gì song trên mặt nhiều báo cáo lại được coi đây là thành tích!&lt;br /&gt;Hạch toán chung của phát triển kinh tế thượng nguồn theo kiểu như vậy trong 25 năm qua là lợi bất cập hại, cái giá phải trả cho phát triển quá đắt so với mức tiến bộ đạt được, tiếp tục ghìm giữ đất nước trong vòng lạc hậu cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Chính điều này góp phần giải thích tại sao 25 năm ban đầu của nước ta đi chậm hơn 25 năm đầu của các NICs như Hàn Quốc và Đài Loan, thậm chí đang thúc đẩy đất nước rẽ vào ngả đường trở thành một Philippines mới!&lt;br /&gt;Trên thế giới người ta gọi hiện tượng này là căn bệnh Hà Lan hay là "lời nguyền của tài nguyên", giải thích căn nguyên hàng chục năm qua lấy xuất khẩu tài nguyên làm nguồn thu nhập quan trọng song hiện nay vẫn ở trong vòng lạc hậu - đấy chính là căn bệnh kinh tế Hà Lan đã mắc phải năm 1977, khi quá chú trọng xuất khẩu khí thiên nhiên và qua đó làm trì trệ và suy sụp nhiều ngành kinh tế khác, Hà Lan buộc phải thay đổi chiến lược phát triển của mình để tìm lối thoát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hãy thử xem xét một số vấn đề:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các xí nghiệp xi-măng, luyện thép đã có, đang xây dựng, hoặc đã được cấp phép xây dựng sẽ dẫn tới tình hình nước ta vào năm 2020 thừa khoảng một chục triệu tấn xi măng/năm và khoảng 20 triệu tấn thép/năm trong tình trạng đất nước ngày càng thiếu năng lượng gay gắt. Phải chăng mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta như vậy là để trở thành cường quốc xi-măng và thép trong thế kỷ 21 này?&lt;br /&gt;Nếu điều này xảy ra, chắc chắn là một thảm họa cho đất nước - trước hết vì cảnh quan môi trường tự nhiên của đất nước sẽ bị "mặt trăng hóa" nhiều vùng, kinh tế nước ta sẽ đổ vỡ, vì bị xi-măng và thép không có khả năng cạnh tranh của chúng ta đè bẹp..&lt;br /&gt;Vào năm 2015 trở đi, nước ta sẽ thiếu năng lượng trầm trọng và phải nhập khẩu, trong khi đó xuất khẩu than và dầu của nước ta xuốt 25 năm qua hầu như bỏ qua tương lai của đất nước! Phát triển thủy điện đã vượt qua cái ngưỡng cho phép.&lt;br /&gt;Trong khi đó nhà nước lại thiếu hẳn việc nghiêm khắc rà xoát, đánh giá lại chính sách năng lượng quốc gia hiện nay, thiếu hẳn những nỗ lực xử lý nghiêm khắc và khắc phục tình trạng lãng phí và thất thoát năng lượng quá lớn đang diễn ra hàng chục năm nay.&lt;br /&gt;Nếu đánh giá nghiêm túc chi phí/lợi ích (cost/benefit), bao gồm cả những việc như chi phí cho khắc phục những tác động ngoại vi của việc khai thác than, hoàn trả môi trưởng tự nhiên nơi khai thác, sự thất thoát hàng chục triệu tấn than lậu/năm, sự tàn phá môi trường tự nhiên trong vùng, đánh giá cái được và cái mất so với đòi hỏi của chiến lược năng lượng quốc gia, vân... vân... khó có thể coi việc khai thác mỗi năm khối lượng càng lớn than ở Quảng Ninh là môt thành tựu kinh tế.&lt;br /&gt;Đúng hơn nên coi đó là một thất bại kinh tế lớn và một sai lầm về chiến lược năng lượng - không phải do chủ trương khai thác than, mà do năng lực quản lý và hiệu quả kinh tế yếu kém; đặc biệt quan trọng là do thiếu hẳn một chiến lược năng lượng quốc gia được xác định với những luận chứng vững chắc làm cơ sở cho việc khai thác. Thậm chí còn có thể coi việc khai thác than Quảng Ninh trong khi đất nước ngày càng khan hiếm năng lượng là một trong các ví dụ rõ nét nhất của tình trạng "bóc ngắn cắn dài", các thế hệ tương lai phải trả giá! Trong cả nước còn có nhiều công trình khai thác titan, khai thác đồng, khai thác các khoáng sản khác để xuất khẩu nguyên liệu với hệ quả xấu tương tự&lt;br /&gt;Rừng phòng hộ và rừng tự nhiên ngày càng bị trọc hóa và chỉ còn lại rất ít; đặc biệt là rừng đầu nguồn đã rất ít mà còn đang tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng. Lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và khó khắc phục hơn. Đất đai bị xói mòn và sa mạc hóa cùng với tình trạng chất lượng thổ nhưỡng ngày càng xuống cấp đang gia tăng với tốc độ rất đáng lo ngại.&lt;br /&gt;Xin hãy đến tận nơi các khu khai thác này, dù là titan ở dọc bờ biển miền Trung, dù là những&amp;nbsp; cánh rừng nham nhở do khai thác quặng sắt ở Lào Cai để xuất khẩu sang Trung Quốc, các vùng khai thác vàng bừa bãi ở Bắc Kạn, Quảng Nam, Bình Thuận... - mà chủ yếu là khai thác lậu, những dòng sông chết, những con sông&amp;nbsp; bị đổi dòng và đôi bờ sụt lở do bán cát, những cánh đồng hoang do các dự án treo... để nhìn tận mắt thực trạng này.&lt;br /&gt;Xin hãy đối chiếu thực tế nêu trên với quan điểm ghi trong nghị quyết Đại hội X: "Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế như lọc hóa dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hóa chất, xi-măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng và một số sản phẩm cơ khí chế tạo" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa X, trang 197-198).&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Học từ sai lầm của những nước đi trước&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;Việt Nam là nước đi sau, có rất nhiều cái bất lợi và cái lợi phải xử lý thỏa đáng - điều này có nghĩa phải tìm ra con đường riêng của mình để không phải lặp lại những sai lầm của các nước đi trước, tránh các nguy cơ trở thành "bãi thải công nghiệp" của các nước khác, đồng thời tìm ra cho mình con đường thuận lợi hơn.&lt;br /&gt;Thị trường thường chật cứng đối với nước đi sau - vì vậy phải khai thác lợi thế nước đi sau trong việc chiếm lĩnh các thị trường ngách (các "niches"), mà muốn thế phải có các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và chính sách đối ngoại cho phép liên kết, chiếm lĩnh những khâu nào đó của các chuỗi cung - ứng trên thị trường thế giới để có khả năng khai thác tốt nhất các thị trường ngách. Công nghiệp hóa vì vậy cần có trọng tâm là chú trọng, tranh thủ khai thác các thị trường ngách, đồng thời tìm đường chiếm lĩnh thị trường mới;.&lt;br /&gt;Hiển nhiên 25 năm qua những đòi hỏi này không được đặt ra hoặc không được đặt ra một cách đúng tầm để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-809224711304520965?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/809224711304520965/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=809224711304520965' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/809224711304520965'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/809224711304520965'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2009/12/nguy-co-hien-hien-tu-cach-lam-xoi.html' title='Nguy cơ hiển hiện từ cách làm &quot;ăn xổi&quot;'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-1671665371954702575</id><published>2009-12-07T10:03:00.002+07:00</published><updated>2009-12-07T10:03:30.105+07:00</updated><title type='text'>Doanh nghiệp nhà nước: Lương chủ tịch, tổng giám đốc cao hay thấp?</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Một Thứ trưởng Bộ Tài chính đã nghỉ hưu, chuyển sang làm tổng giám đốc một DN nhà nước, riêng tiền lương đã lên tới 942 triệu đồng/năm. Còn Cty Cổ phần Jetstar (Nhà nước chiếm 70% cổ phần) làm ăn thua lỗ nhưng tổng giám đốc hưởng lương&amp;nbsp; trên 2 tỷ đồng một năm... &lt;/span&gt; &lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Câu chuyện lương của lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước có điều gì bất ổn?&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Lương kỷ lục&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Năm 2007, ông Trần Văn Tá, Thứ trưởng Bộ Tài chính được nghỉ hưu theo chế độ. Nhưng sau đó, ông lại không được nghỉ hưu mà được giao chức vụ Tổng giám đốc Tổng Cty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Trong một buổi tiếp nhận phần vốn Nhà nước tại 3 doanh nghiệp thuộc Bộ NN&amp;amp;PTNT năm 2008, Tổng giám đốc SCIC Trần Văn Tá từng phát biểu đại ý, mặc dù đến tuổi nghỉ hưu nhưng ông vẫn chưa được nghỉ mà phải tiếp tục trọng trách được giao là quản lý một doanh nghiệp với mô hình mới với nhiều khó khăn, phức tạp. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Khi đó, có người bình luận, chắc phải tâm huyết lắm ông Tá mới nhận nhiệm vụ khó khăn&amp;nbsp; này. Nhưng qua kết quả kiểm toán vừa qua, nhiều người té ngửa, bởi mức lương mà ông Tá được nhận tới 942 triệu đồng/ năm, cao hơn 10 lần lương của tổng giám đốc, chủ tịch các tập đoàn kinh tế (lương tổng giám đốc tập đoàn chỉ từ 8,5 đến 8,8 x 650.000 đồng, khoảng 6 triệu đồng/tháng).&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Vì sao ông Tá lại được trả lương cao như vậy? &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Hệ số lương bình quân năm 2007 của SCIC chỉ là 2,82. Thế nhưng năm 2008, với lý do rất cảm tính là “do Tổng công ty tuyển dụng cán bộ có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ tốt, có kinh nghiệm trong công tác từ 5 - 10 năm, phẩm chất và năng lực phải đảm nhận các công việc khó, phức tạp, đòi hỏi trình độ của chuyên viên bậc cao”, nói tóm lại là do công việc tại SCIC “vất vả, phức tạp” nên doanh nghiệp này xin và được chấp nhận mức hệ số lương bình quân tăng đột biến lên tới 4,25. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt; &lt;table border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" id="table36"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;             &lt;td&gt;             &lt;img border="1" hspace="3" src="http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/16/2009/12/ngay07/luonghaylau.jpg" style="cursor: pointer;" vspace="3" /&gt;&lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;             &lt;td align="center"&gt;             &lt;div align="center"&gt;&lt;span style="color: navy; font-family: verdana; font-size: 10px;"&gt;(Ảnh             minh họa)&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Nhưng đến cuối năm 2008, hệ số lương bình quân của đơn vị này chỉ là 2,86 (bằng 50% hệ số kế hoạch). &lt;/span&gt; &lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Không chỉ xây dựng hệ số lương kế hoạch quá cao so với thực tế mà số lao động thực tế của SCIC cũng thấp hơn nhiều so với kế hoạch. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Lao động kế hoạch được HĐQT SCIC phê duyệt để xây dựng đơn giá tiền lương năm 2008 là 180 người. Nhưng số lao động làm việc thực tế chỉ 130 người, bằng 72% kế hoạch.&amp;nbsp; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Do được hệ số lương cấp bậc bình quân cao, số người lao động làm việc thực tế thấp hơn nhiều so với lao động kế hoạch, nên SCIC được duyệt đơn giá tiền lương rất cao. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Đơn giá tiền lương năm 2008 của SCIC được Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH duyệt là 10,38 đồng/1.000 đồng doanh thu. Có nghĩa là cứ làm ra 1.000 đồng thì doanh nghiệp này được 10,38 đồng tiền lương. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Theo phương án xây dựng của SCIC thì năm 2008 tổng quỹ lương của doanh nghiệp này là 21,9 tỷ đồng, bao gồm quỹ lương theo đơn giá 20,4 tỷ đồng, quỹ lương của HĐQT và tổng giám đốc hơn 1,47 tỷ đồng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Điều đáng nói là, đến ngày 12-9-2008, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH mới chính thức phê duyệt đơn giá tiền lương. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Đây là thời điểm gần cuối năm 2008, Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH hoàn toàn có thể biết được tất cả các chỉ tiêu về hệ số lương cấp bậc thực tế bình quân và số lao động thực tế tại SCIC thấp hơn rất nhiều so với kế hoạch của SCIC, nhưng Bộ này vẫn phê duyệt đơn giá tiền lương như SCIC xây dựng từ đầu năm, không kiểm tra thực tế trước khi phê duyệt. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Do quá tin tưởng vào SCIC nên khi kiểm tra, phê duyệt đơn giá tiền lương, Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH hầu như hoàn toàn dựa vào kế hoạch của SCIC trình. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Một cán bộ, hưởng hai lương&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;table align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="5" id="table34"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;             &lt;td bgcolor="#999999" style="font-family: arial; font-size: small;"&gt;             &lt;table align="left" cellpadding="3" cellspacing="1" id="table35"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;                         &lt;td bgcolor="#f3f4ef" class="text"&gt;                         &lt;div align="justify"&gt;                         &lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;HĐQT SCIC                         gồm 7 thành viên do Bộ trưởng Bộ Tài                         chính Vũ Văn Ninh kiêm nhiệm Chủ tịch                         HĐQT. Phó Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc                         là ông Trần Văn Tá. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;                         &lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Các ủy viên                         HĐQT kiêm nhiệm là Thứ trưởng Bộ Công                         thương Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ KH&amp;amp;ĐT                         Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ Tài chính                         Trần Xuân Hà. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;                         &lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Hai thành                         viên chuyên trách HĐQT là ông Hoàng                         Nguyên Học- Phó Tổng giám đốc và ông                         Nguyễn Quốc Huy- Trưởng Ban Kiểm soát.                         &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;                     &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;             &lt;/table&gt;&lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt; Quỹ tiền lương của HĐQT và Tổng giám đốc SCIC được Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH duyệt là hơn 1,473 tỷ đồng, nhưng thực tế năm 2008 SCIC đã trả lương đối với các thành viên HĐQT chuyên trách và tổng giám đốc là trên 2,642 tỷ đồng, không tính các khoản thưởng và thu nhập khác, vượt quỹ lương so với kế hoạch gần 1,169 tỷ đồng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Khi xây dựng kế hoạch trình Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH, SCIC dự tính sẽ trả lương thành viên HĐQT và tổng giám đốc là 40 triệu đồng/tháng. Nhưng thực tế năm 2008, lương của thành viên chuyên trách HĐQT và tổng giám đốc SCIC là 78,5 triệu đồng/tháng (tương đương 942 triệu đồng năm), gấp 1,96 lần so với kế hoạch. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Kiểm toán Nhà nước cho rằng, việc phân phối thu nhập tại SCIC còn bất cập, thu nhập của lãnh đạo cao hơn nhiều lần so với nhân viên, mặc dù lương của nhân viên tại đây cũng cao ngất ngưởng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="center"&gt; &lt;table border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" id="table37"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;             &lt;td height="315"&gt;             &lt;img border="1" hspace="3" src="http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/16/2009/12/ngay07/luonghaylau1.jpg" style="cursor: pointer;" vspace="3" /&gt;&lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;&lt;tr&gt;             &lt;td&gt;             &lt;div align="center"&gt;&lt;span style="color: navy; font-family: verdana; font-size: 10px;"&gt;Trụ             sở Tổng Cty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)&amp;nbsp;-&lt;em&gt; (Ảnh: Hồng             Vĩnh)&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;         &lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt; &lt;/table&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Thu nhập bình quân của các trưởng ban là 29 triệu đồng/tháng (tương đương 348 triệu đồng/năm). Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên là 12,4 triệu đồng/tháng (tương đương 148,8 triệu đồng/năm). &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Ngoài ra, có những cán bộ tại SCIC còn được hưởng hai lương. Năm 2008, SCIC cử 18 người tham gia HĐQT và Ban kiểm soát tại các doanh nghiệp mà SCIC giữ phần vốn trong đó. Những nhân viên này đã được nhận lương của SCIC để làm nhiệm vụ này. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Tuy nhiên, 11 trong số 18 cán bộ này lại được nhận thêm thù lao từ các doanh nghiệp mà mình làm đại diện của SCIC, với tổng số tiền 949 triệu đồng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Số tiền thù lao này cũng được sử dụng không giống ai. SCIC có cơ chế phân phối số tiền này là 60% (451 triệu) nộp vào quỹ công đoàn, 40%&amp;nbsp; còn lại (497 triệu) cho người tham gia kiêm nhiệm. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Tuy nhiên, đoàn kiểm toán cho rằng, việc một cá nhân ăn lương của SCIC lại nhận thêm thù lao, phụ cấp của doanh nghiệp mình đại diện phần vốn là không có cơ sở và yêu cầu thu hồi số tiền đã nộp vào quỹ công đoàn của SCIC là 451 triệu đồng.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Với những ưu ái của Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&amp;amp;XH, SCIC đã được phê duyệt một đơn giá tiền lương quá cao. Đoàn kiểm toán Nhà nước đã xác định giảm quỹ lương của SCIC đã hạch toán vào chi phí năm 2008 là 3,8 tỷ đồng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Tính toán lại theo đúng quy định nhà nước, Kiểm toán Nhà nước cho rằng, đơn giá tiền lương năm 2008 của SCIC chỉ có 8,26 đồng/1.000 đồng. Như vậy để thấy, hai Bộ Tài chính và LĐ-TB&amp;amp;XH đã trả lương cho lãnh đạo và nhân viên SCIC quá mức mà những cán bộ này đáng được hưởng. &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;span style="font-family: arial; font-size: 13px;"&gt;Kiểm toán Nhà nước đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo HĐQT, Ban Tổng giám đốc SCIC kiểm điểm làm rõ trách nhiệm trong việc xây dựng đơn giá tiền lương, quyết toán và phân phối tiền lương.&lt;em&gt; &lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/157995146416951961-1671665371954702575?l=nguyphadzu.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/feeds/1671665371954702575/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=157995146416951961&amp;postID=1671665371954702575' title='1 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1671665371954702575'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/157995146416951961/posts/default/1671665371954702575'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://nguyphadzu.blogspot.com/2009/12/doanh-nghiep-nha-nuoc-luong-chu-tich.html' title='Doanh nghiệp nhà nước: Lương chủ tịch, tổng giám đốc cao hay thấp?'/><author><name>nguyphadzu</name><uri>http://www.blogger.com/profile/10520723632917367332</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/__UnUbc5NWNI/Swv7P_YLnRI/AAAAAAAAAAM/01K-w9KSx30/S220/quatgiay.jpg'/></author><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-157995146416951961.post-2324275035913614018</id><published>2009-12-05T22:31:00.000+07:00</published><updated>2009-12-05T22:31:02.697+07:00</updated><title type='text'>Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam (1995)</title><content type='html'>Hiện nay, trong các giới nghiên cứu ở nước ta, vấn đề “số phận” của chủ nghĩa Mác-Lênin đang được đặt ra với những mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp. Đây không phải là do ý muốn chủ quan của một ai và cũng không tùy thuộc vào thái độ chủ quan của một ai cả. Bản thân cuộc sống đang đặt ra vấn đề này, dù muốn lảng tránh cũng không được. Tất nhiên, đây là vấn đề rất khó bàn luận, vì đụng tới một học thuyết được đảng cộng sản, với tư cách đảng cầm quyền, coi là “hệ tư tưởng chính thống”. Nhưng bằng cách này hay cách khác, người ta vẫn cứ phải đụng tới. Và ngay cả những người đang đề xướng phải “kiên quyết bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin” cũng đang đụng tới trước hết: bảo vệ cái gì, đối với ai, và tại sao phải phát triển, phát triển như thế nào… [1]&lt;br /&gt;Ở đây hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, cần lắng nghe nhau, tôn trọng lẫn nhau để có thể “đãi cát lấy vàng”. Mọi thiên kiến, mọi thành kiến đều không dẫn tới những kết quả mong muốn. Với tinh thần đó, xin trình bày một số suy nghĩ của tôi về vấn đề này:&lt;br /&gt;1.&lt;br /&gt;Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam.&lt;br /&gt;2.&lt;br /&gt;Ai du nhập và du nhập như thế nào?&lt;br /&gt;3.&lt;br /&gt;Du nhập những nội dung gì?&lt;br /&gt;4.&lt;br /&gt;Những hệ quả của sự du nhập này đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam cho đến nay&lt;br /&gt;5.&lt;br /&gt;Cuối cùng có thể rút ra nhận xét gì về vị trí của chủ nghĩa Mác-Lênin trong sự phát triển của đất nước từ nay về sau.&lt;br /&gt;Nhưng trước khi đi vào nội dung nói trên, xin có mấy lời về phương pháp.&lt;br /&gt;Khi nghiên cứu và bàn luận vấn đề này, dễ vấp phải một loạt khó khăn không dễ vượt qua. Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm ấy cần được hiểu như thế nào đây? Nội hàm của nó là những gì? Cho đến nay vẫn chưa ai minh định được, và như chúng ta biết từ chính kinh nghiệm bản thân, chủ nghĩa Mác-Lênin có rất nhiều cách lý giải khác nhau. Trước đây và cả hiện nay, những người tự xưng là mácxít, lêninít lại có những cách lý giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau đến mức coi nhau là thù địch (những tranh chấp về lý luận giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm 60 và 70 là một ví dụ quá rõ). Đánh nhau, bỏ tù nhau là những hiện tượng không phải là cá biệt trong cuộc sống “đấu tranh tư tưởng” nhân danh “bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin”.&lt;br /&gt;Về mặt lịch sử, khái niệm “chủ nghĩa Mác-Lênin” chỉ mới xuất hiện chính thức từ những năm 30, trước đó người ta dùng khái niệm “chủ nghĩa Mác”, và hai khái niệm ấy không phải là đồng nhất. Từ “chủ nghĩa Mác-Lênin” theo một bài viết trên Pravda, xuất hiện lần đầu tiên vào 1925, theo một nguồn tài liệu khác, vào 1930. Được chính thức sử dụng trong Tóm tắt lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1938; nói chung là dưới thời Stalin. Stalin tự coi và được coi là người có tiếng nói cuối cùng về những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, từ triết học (chương “Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử” trong Tóm tắt lịch sử ĐCS (b) Liên Xô ) đến chính trị kinh tế học (Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, 1952) và chủ nghĩa xã hội khoa học (trong nhiều bài phát biểu khác nhau). Bản thân Stalin cũng bỏ ra nhiều thời gian để làm công việc lý giải chủ nghĩa Mác-Lênin. Và sau khi Stalin chết, không biết bao nhiêu lần chủ nghĩa Mác-Lênin được trình bày với những dạng thức khác nhau, tùy theo những tác giả có thẩm quyền khác nhau và tùy theo những hoàn cảnh lịch sử khác nhau.&lt;br /&gt;Ở Việt Nam, theo chỗ tôi biết, ngoài những sách dịch từ tiếng Nga, tiếng Hoa ra, chưa có một tác giả nào trình bày chủ nghĩa Mác-Lênin một cách đầy đủ và được thừa nhận như tiếng nói chính thống cả. Một số bài giảng của người này hay người khác, và cả một vài cuốn giáo khoa Mác-Lênin (chủ yếu là của Trường Nguyễn Ái Quốc) nữa cũng chưa được coi là chính thống và thường được sửa đi sửa lại cho hợp với hoàn cảnh từng lúc. Bây giờ, nghe nói có thành lập một hội đồng biên soạn và xét duyệt những giáo trình “chuẩn” về chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng công việc chỉ vừa bắt đầu. Tất cả những điều đó nói lên một nghịch lý: một hệ tư tưởng được coi là chính thống, nhưng chưa có một tài liệu chính thống nào giải thích nó. Vậy thì, nói chủ nghĩa Mác-Lênin là nói tới những gì đây? Thế nhưng trên thực tế, người ta vẫn có thể quy kết người này “chống chủ nghĩa Mác-Lênin, người kia “phản bội” nó v.v.. Và trong “cuộc đấu tranh tư tưởng bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin” ấy, không phải không có những trường hợp cắt xén và bóp méo Mác-Lênin (lời dự báo của Mác “Tôi không phải là mácxít” hóa ra đã thành sự thực).&lt;br /&gt;Dù sao cũng có một số điểm được số đông (nếu không phải là tất cả) những người tự nhận là mácxít-lêninít coi là những điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin để phân biệt với những trào lưu tư tưởng khác. Chẳng hạn: luận điểm về đấu tranh giai cấp dẫn tới chuyên chính vô sản, luận điểm về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản như “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, luận điểm về xóa bỏ chế độ tư hữu như nguồn gốc của tình trạng “người bóc lột người”, luận điểm về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản… Trên bình diện thế giới, những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, về thời đại cách mạng vô sản, về liên minh giữa phong trào cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc… Tạm thời, chúng ta hãy lấy những luận điểm ấy làm những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét vấn đề của chúng ta.&lt;br /&gt;Nhưng đó chỉ mới là những khó khăn về phương pháp khi đụng tới chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung trong trường hợp riêng của Việt Nam, chúng ta lại gặp những khó khăn cũng thật nan giải. Chẳng hạn: Hồ Chí Minh được thừa nhận là “người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam”, người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam”, nhưng có thật hoàn toàn như thế không? Trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên nói tới sự tiếp thụ của Hồ Chí Minh với cả Jésus, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Gandhi, Tôn Trung Sơn, mà không phải chỉ tiếp thụ chủ nghĩa Mác-Lênin [2] .&lt;br /&gt;Chỉ một điểm đó thôi, cũng đủ để chúng ta cần suy nghĩ thật kỹ về “biến thể Việt Nam” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài Hồ Chí Minh, chúng ta còn biết tới một số tài liệu khác của một số người được coi là những nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà thường đó cũng là những người lãnh đạo chủ yếu của Đảng (Trường Chinh, Lê Duẩn v.v..). Trong những tài liệu đó, có những điểm thống nhất, nhưng cũng có những điểm khác nhau (và khác nhau không nhỏ). Chưa nói tới những bài phát biểu miệng có ảnh hưởng lớn (có khi lớn hơn những bài viết và đăng công khai) của nhiều người. Cái khó là ở đó: dựa vào những tài liệu nào để bàn tới những nội dung của chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam?&lt;br /&gt;Nói lên một vài khó khăn về phương pháp như vậy hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta đành bó tay. Điều đó chỉ có nghĩa là cần phải xem xét thận trọng hơn mà thôi. Ở đây, phải chăng nên phân biệt những “phản ứng chính trị” trong những bối cảnh khác nhau với những “quan điểm lý luận” hay có tính chất lý luận. Cái quan trọng nhất đối với chúng ta chính là ở điểm sau mà không phải ở điểm trước, tuy rằng những “phản ứng chính trị” từng lúc ấy cũng nói lên khá rõ những “quan điểm lý luận”.&lt;br /&gt;Xin nói thêm một điểm khác ở mục “vào đề” này: lựa chọn cách tiếp cận vấn đề như thế nào? Thường người ta ít phân biệt rõ mặt chính trị và mặt khoa học khi xem xét vấn đề chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Ở đây tôi xin tách hai mặt đó ra để xem xét. Ở đây, vấn đề không phải là dựa vào sự đối nghịch nhau về mặt chính trị, mà là tìm kiếm những sự thật khoa học có thể đạt tới. Những bất đồng về ý kiến đều không thể tránh trong mọi nghiên cứu khoa học là tự nhiên và cũng là cần thiết.&lt;br /&gt;Gác mặt chính trị sang một bên, tôi xin nói tới những cách tiếp cận khoa học đối với vấn đề này.&lt;br /&gt;Trước hết là cách tiếp cận sử học. Đó là cách tiếp cận quen thuộc hơn cả đối với chúng ta. Lý giải các hiện tượng và các quá trình – ở đây là sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam – trong những liên hệ với từng bối cảnh lịch sử là yêu cầu hàng đầu của các tiếp cận sử học.&lt;br /&gt;Một cách tiếp cận khác không thể thiếu được là cách tiếp cận xã hội học. Gần đây, một tác giả người Việt ở Pháp, tiến sĩ Trịnh Văn Thảo, công bố một tác phẩm đáng chú ý: Việt Nam từ Khổng giáo đến chủ nghĩa cộng sản (Vietnam du confucianisme au communisme, L’Harmattan, Paris, 1990, 346 trang). Trong đó ông đã phân tích nhiều vấn đề có liên quan tới nội dung nghiên cứu của chúng ta bằng phương pháp xã hội học, từ đó ông đưa ra những nhận xét khá lý thú [3] . Chúng ta có thể và cần phải áp dụng cả cách tiếp cận này để đi tới những kết luận đầy đủ hơn. Yêu cầu hàng đầu của cách tiếp cận xã hội học là đặt các tác nhân xã hội (agents sociaux) vào những liên hệ chặt chẽ với các nhóm xã hội nhất định và với những biến đổi xã hội cụ thể, tìm ra những lực đẩy xã hội đối với các hành vi của những tác nhân xã hội ấy. Vấn đề này có liên quan với việc xem xét những người du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam cũng như những người là đối tượng của sự du nhập ấy, như những tác nhân xã hội tương ứng. Ở đây lịch sử xã hội và tư tưởng của các cá nhân tham gia quá trình du nhập ấy giữ một vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu.&lt;br /&gt;Một cách tiếp cận nữa không thể thiếu là cách tiếp cận tâm lý học và tâm lý xã hội. Trong thế kỷ XX đầy những biến thiên dồn dập và to lớn của nước ta, nhưng phản ứng tâm lý của cá nhân và cộng đồng rất không đơn giản và không phải bao giờ cũng ăn khớp với các quan hệ xã hội, “chụp ảnh nguyên xi” những biến đổi xã hội đã diễn ra. Những yếu tố xã hội như thành phần xã hội – giai cấp, địa vị xã hội v.v… trong rất nhiều trường hợp, lùi xuống vị trí thứ yếu so với những phản ứng tâm lý. Anh em cùng một bố mẹ có khi đứng hai bên chiến lũy. Sự phân hóa về tâm lý và tư tưởng nhiều khi “lệch pha” với sự phân hóa xã hội. Ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng khác nhau có ý nghĩa quyết định trong những bước ngoặt lịch sử đất nước. Chưa nói tới những yếu tố thuần túy cá nhân, có khi là những yếu tố ngẫu nhiên, cũng đóng vai trò quan trọng. Một ví dụ: vào cuối những năm 20, đầu những năm 30, thành phần xã hội và trình độ học vấn của những người theo Việt Nam Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản không khác gì nhau bao nhiêu. Nói chung đội ngũ “cốt cán” của hai chính đảng này thường bao gồm những người trí thức cỡ trung bình, có xu hướng yêu nước. Nhưng điều đó không ngăn cản những cuộc “đấu tranh tư tưởng” quyết liệt giữa những tổ chức cách mạng đối địch nhau ấy. Ở đây, sự khác nhau nhiều khi chỉ là do người này bắt được ánh sáng này, người kia bắt được ánh sáng khác và cứ thế lao hết mình theo thứ ánh sáng mình bắt được ấy. Những sự vận động về mặt tâm lý xã hội dưới sự tác động của những liên hệ xã hội, ảnh hưởng xã hội, biểu tượng, niềm tin v.v… không diễn ra theo lối đơn tuyến mà diễn ra theo lối đa tuyến. Lý giải mọi hiện tượng bằng lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ là một mặt cần tính đến nhưng không phải là “vạn năng”. Nhất là khi đi vào tiểu sử của những nhân vật có ảnh hưởng lớn tới tiến trình vận động xã hội, thì lại càng thấy rõ điều đó.&lt;br /&gt;Với sự vận dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng bổ sung cho nhau như vừa nói, chúng ta có thể đi tới một bức tranh gần đúng với các quá trình xã hội hiện thực, ở đây là quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin mà chúng ta đang nghiên cứu.&lt;br /&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;&lt;strong&gt;I. Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Từ trước đến nay, thường giới hạn bối cảnh này vào những năm 20. Lý do: khi Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và bắt đầu tiến hành việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam thông qua báo chí và các tổ chức cách mạng được ông thành lập sau đó. Đúng là từ những năm đó, những sự lựa chọn khắc nghiệt được đặt ra trước những người yêu nước và cách mạng Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở trong nước. Đi theo trào lưu cách mạng nào: vô sản hay không vô sản, tiến hành đấu tranh cách mạng dưới hình thức nào: bạo lực hay phi bạo lực; chỗ dựa xã hội chủ yếu là ở đâu: các tầng lớp “bên trên” hay các tầng lớp “bên dưới”… một loạt câu hỏi đặt ra rất bức bách đối với tình hình xã hội Việt Nam, theo những thôi thúc mạnh mẽ của những tiến trình cách mạng thế giới hồi đó (nhất là cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc).&lt;br /&gt;Xin lưu ý một điểm: Có thể nói, trong cả thế kỷ này, những vận động của xã hội Việt Nam nói chung và của các trào lưu cách mạng Việt Nam nói riêng đã chịu sự tác động rất lớn của những tiến trình chung diễn ra trên thế giới. Những phong trào cách mạng xung quanh nước ta, đặc biệt của cách mạng Trung Quốc. Tất nhiên sự tác động này thường bị “khúc xạ” qua những tính đặc thù của Việt Nam. Nhưng nhìn chung, những nhịp bước của Cách mạng Việt Nam gần như ăn khớp với những nhịp bước của cách mạng thế giới. Riêng về tác động của cách mạng Trung Quốc, có thể nói trong mấy chục năm đầu thế kỷ này, Việt Nam gần như theo sát từng bước đi của nó: từ phong trào Duy Tân, qua phong trào cách mạng kiểu Tôn Trung Sơn (Quang phục Hội và Quốc dân Đảng), đến phong trào thanh niên, rồi đến phong trào cộng sản. Về sau này, tuy không ăn khớp đến mức đó, nhưng rõ ràng Trung Quốc vẫn tác động rất lớn đến Việt Nam, từ đầu tranh vũ trang đến cải tạo xã hội chủ nghĩa và đến cả “cải cách”, “đổi mới”, hiện nay. Điều đó không có gì khó hiểu: giữa hai nước có nhiều nét giống nhau về xã hội, lịch sử và truyền thống văn hóa-tư tưởng, mà Trung Quốc thường là “người thầy” của Việt Nam về nhiều mặt, không những vì Trung Quốc lớn hơn mà chủ yếu trình độ phát triển xã hội và văn hóa của Trung Quốc thường đi trước ta một bước. Âu cũng là cái “nghiệp” của lịch sử với đủ những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của nó.&lt;br /&gt;Thật ra, muốn nhìn nhận đúng hơn quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, cần ngược lên lịch sử đất nước một chút nữa, từ cuối thế kỷ XIX và nhất là từ những năm đầu của thế kỷ XX. Tôi không có một phát hiện gì mới khi nói rằng: hệ vấn đề đặt ra trước sự phát triển của đất nước đầu thế kỷ và cuối thế kỷ hầu như giống nhau. Những mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”, xã hội “văn minh” đâu phải là chuyện mới mẻ! (Đúng là ngày nay chúng ta có thêm từ “công bằng”, nhưng hệ vấn đề về cơ bản vẫn là thế). Bài toán hiểm hóc nhất của tất cả các nước lạc hậu (và do lạc hậu mà rơi vào ách thống trị của các cường quốc phương Tây) là bài toán vượt tới trình độ văn minh của các nước tiên tiến hồi đó, để vừa thoát khỏi ách nô dịch của nước ngoài, vừa khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước. Và xét đến cùng, giành được độc lập chỉ là tiền đề bắt buộc để đạt tới một xã hội văn minh và chỉ khi đạt tới đó thì độc lập dân tộc mới thật sự có ý nghĩa. Hơn lúc nào hết, hiện nay vấn đề này lại được đặt ra trong tính toàn bộ, tính tổng thể của nó. Và không có gì lạ khi ở cuối thế kỷ này, khi chúng ta đã giành được độc lập trọn vẹn, chúng ta cũng lại đứng trước hệ vấn đề “dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh” được đặt ra vào đầu thế kỷ này.&lt;br /&gt;Tất nhiên, những nội dung và điều kiện của nó đã hoàn toàn khác trước. Ngày nay chúng ta đã có tiền đề độc lập dân tộc và đang nói tới “văn minh” trong bối cảnh một nền văn minh khác, nhưng hệ vấn đề “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” là sự phục hồi và sự tiếp tục của hệ vấn đề đã đặt ra đầu thế kỷ, từ thời Duy Tân. Một sự trùng lập đáng ngạc nhiên: Ngày nay từ “đổi mới” được dùng như tên gọi một sự nghiệp lịch sử của toàn thể dân tộc nhằm “hiện đại hóa” đất nước cũng là từ “Duy Tân” ở đầu thế kỷ, chỉ khác nhau ở một từ là thuần Việt còn từ kia là Hán Việt. Sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân là một hoàn cảnh đặc biệt để các nhà nho Duy Tân đầu thế kỷ suy nghĩ về vận mệnh đất nước theo hướng giải phóng dân tộc và hiện đại hóa đất nước. Xét theo một ý nghĩa nào đó, chính chủ nghĩa thực dân đóng vai trò “kích thích” (theo lối phản diện) để giới sĩ phu Duy Tân đặt ra những vấn đề vừa cấp bách vừa căn bản của đất nước trong cả thế kỷ XX (một lần nữa, không thể không nhắc tới tác động của những tư tưởng Duy Tân ở Trung Quốc đối với sĩ phu nước ta, qua các Tân thư được đọc khá rộng rãi vào đầu thế kỷ). Không nên đánh giá thấp sự tiếp nhận của giới sĩ phu Duy Tân đối với các trào lưu tư tưởng phương Tây hồi đó. Họ đã đọc khá nhiều tác giả lớn (nhất là J-J .Rouseau, Montesquieu, Spencer…) qua chữ Hán và đọc khá sâu. Ngày nay, nhiều người trí thức thậm chí không hề làm quen với những tác giả này, trong khi các sĩ phu thời trước rất “thuộc” họ. Một ngộ nhận lớn của chúng ta là tưởng rằng những tác giả ấy đã “lỗi thời”, chỉ cần đọc những tác giả Mác-Lênin là đủ để nắm được những trí thức cao nhất của loài người. Và thế là ngoài sách Mác-Lênin ra, người ta chẳng cần biết tới những tư tưởng “thấp kém” và “sai lầm” khác.&lt;br /&gt;Đọc một tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục như Văn minh tân học sách chưa xác định được ai là tác giả), tôi kính phục vô vàn tầm suy nghĩ của các sĩ phu Duy Tân. Các cụ phân tích rất hay tình trạng lạc hậu của ta về kinh tế, về “tính tình” (tâm lý xã hội), về phong tục… Nêu lên cũng rất hay bốn nguyên nhân suy đồi của Á Đông: Nội hạ ngoại di (coi mình là hơn người), trọng vương khinh bá (trọng đạo lý, khinh kỹ thuật và phương pháp), xưa đúng nay sai (người xưa luôn luôn đúng) và cuối cùng, trọng quan khinh dân. Và vạch rõ “sáu đường mở mang dân trí”: dùng chữ Quốc ngữ, đổi lại sách dạy học, cải cách chế độ trường học, khuyến khích nhân tài mới, phục hưng công nghiệp và thương mại, phát triển báo chí. Và để thực hiện những điều đó, các cụ kêu gọi “kết nghĩa đồng bào”, nêu cao truyền thống yêu nước của “dòng dõi Lạc Long”, của “con nhà Nam Việt”… Dù khác nhau về phương pháp, độc lập dân tộc vẫn là mục tiêu của tất cả các xu hướng (tự lập hay trông chờ ngoại viện, quân chủ hay cộng hòa, bạo lực hay không bạo lực, theo cách phân chia của Trịnh Văn Thảo).&lt;br /&gt;Rõ ràng phong trào Duy Tân với hai nội dung cơ bản (yêu nước và canh tân xã hội để có độc lập dân tộc và xã hội văn minh) là di sản do các vị tiền bối ở đầu thế kỷ XX để lại cho những kẻ hậu sinh trong thế kỷ này, cho chúng ta hôm nay.&lt;br /&gt;Có người đánh giá phong trào Duy Tân đầu thế kỷ như là “hệ tư tưởng tư sản”, nghĩa là như một thứ gì có thể vứt bỏ, không mảy may thương xót để theo “hệ tư tưởng vô sản” cao hơn, đúng hơn. Bằng con mắt hôm nay để nhìn lại, tôi thấy không phải như thế. Bởi vì, như trên đã nói, hệ vấn đề đặt ra thời ấy và hệ vấn đề đặt ra hôm nay đối với vận mệnh của đất nước về cơ bản giống nhau. Và khi đặt ra hệ vấn đề mới ấy, các sĩ phu Duy Tân đầu thế kỷ đã phải dứt bỏ một cách đau đớn với hệ tư tưởng cũ là Nho giáo, mà các cụ coi là những nguyên nhân đưa tới sự lạc hậu của đất nước. Ở đây, ngoài tầm trí tuệ “nhìn xa thấy rộng” ra, phải thấy đó là một sự dũng cảm lớn của các cụ. Các cụ là những nhân cách lớn, dám đoạn tuyệt với những lề thói suy nghĩ và hành động lỗi thời. Sự dũng cảm lớn nhất của mỗi con người chính là ở chỗ dám đoạn tuyệt với những nhận thức, những đạo lý lỗi thời mà bản thân mình từng coi là “khuôn vàng thước ngọc” không thể thay đổi được. “Hủ nho” là đối tượng phê phán của các cụ, và sự phê phán ấy bao hàm cả tự phê phán. Tinh thần của các cụ được thể hiện bằng một câu trong Văn minh Tân học sách: “Dây đàn cầm không hài hòa thì tháo ra mà sửa lại, nhà ở đã cũ hàng ngàn năm thì phải dở đi mà làm lại”. Phải chăng đó là cái tinh thần hiện nay chúng ta đang cần có?&lt;br /&gt;Phong trào Duy Tân bị thực dân Pháp khủng bố nặng nề. Hầu hết các sĩ phu Duy Tân đều bị bỏ tù không thương xót (có lẽ đó là lớp tù chính trị đầu tiên bị đày ra Côn Đảo mà Huỳnh Thúc Kháng mô tả trong Thi tù tùng thoại). Một số người còn bị thực dân Pháp chém đầu. Thất bại của họ là thật dễ hiểu, nhưng họ đã làm được một sứ mệnh rất lớn trong đời sống tư tưởng với hệ vấn đề mà bây giờ chúng ta có thể gọi là vấn đề “hiện đại hóa” do họ đặt ra. Có ý thức hay không có ý thức, tất cả các trào lưu yêu nước và cách mạng sau này đều tiếp nhận những tư tưởng lớn ấy của họ. Không phải trong những tư tưởng của họ không có những chỗ yếu, những hạn chế. Điều đó đã được nói tới nhiều, nhưng cái lớn lao của họ dường như đã không được đánh giá đúng, có khi bị phủ định quá dễ dàng (chẳng hạn chỉ cần ghép những tư tưởng Duy Tân vào “hệ tư tưởng tư sản” là đủ để xóa bỏ đi một cách nhẹ nhàng).&lt;br /&gt;Tôi xin nói thật rằng: nếu ngày nay, giới trí thức chúng ta (lớp “kẻ sĩ” hiện đại) có được tầm trí tuệ và khí phách ngang với những sĩ phu Duy Tân, thì đã là điều đáng mừng lắm rồi. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội của nước ta, vào những năm đầu thế kỷ chưa thật chín muồi để cho những tư tưởng Duy Tân trở thành xu hướng chủ đạo của toàn xã hội. Thêm vào đó, những biến đổi xã hội và lịch sử sau đó lại đặt ra những vấn đề mới mà lớp trí thức “tân học” phải đương đầu.&lt;br /&gt;Có hai điểm cần nhấn mạnh:&lt;br /&gt;Thứ nhất, sự thống trị thực dân, trong khi đè nặng lên thân phận của mọi người Việt Nam, đã bước sang thời kỳ “khai thác thuộc địa” tương đối ổn định hơn (đặc biệt là sau khi đàn áp xong những cuộc khởi nghĩa vũ trang của Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn… và sau chiến tranh thế giới thứ nhất). Chính trong thời kỳ này, dưới tác động của những chính sách “khai thác thuộc địa” ấy, xã hội Việt Nam có những thay đổi quan trọng. Lâu nay, chúng ta quen nhìn chủ nghĩa thực dân ở một phía (bóc lột, đàn áp…) còn phía thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội thì chưa được đánh giá đúng. Ở đây, xin nhắc lại cách nhìn của Mác khi ông phân tích về sự thống trị của thực dân Anh ở Ấn Độ. Theo ông: “nước Anh có hai sứ mệnh phải thực hiện ở Ấn Độ: Một sứ mệnh có tính chất phá hoại, Một sứ mệnh phục hưng: thủ tiêu xã hội (châu Á cổ xưa và đặt những nền móng vật chất của xã hội phương Tây ở Châu Á…”. Nói cách khác, bên cạnh tính chất man rợ, hung hăn và lòng tham vô độ của chủ nghĩa thực dân đối với dân bản xứ, Mác cũng nói tới tác dụng khách quan (ngoài ý muốn của chủ nghĩa thực dân) trong việc đưa các nước thuộc địa vào những quá trình thay đổi mạnh mẽ về lực lượng sản xuất và về quan hệ sản xuất theo hướng Âu hóa. Điều Mác nói về thực dân Anh ở Ấn Độ về cơ bản cũng thích hợp với thực dân Pháp ở Việt Nam.&lt;br /&gt;Trong mấy chục năm đầu thế kỷ, rõ ràng xã hội Việt Nam đã trải qua những thay đổi lớn về cơ cấu kinh tế, quan hệ hàng hóa-tiền tệ và cơ cấu hạ tầng (đường bộ, đường sắt, các đô thị mới…) phát triển đến một trình độ cao hơn nhiều so với trước đó. Về cơ cấu xã hội, đã hình thành ra những tầng lớp xã hội mới (nếu chưa nói hẳn là những giai cấp mới): tư sản, vô sản (viên chức, những người làm các nghề độc lập…). Về văn hóa, chữ quốc ngữ được dùng một cách chính thức trong các trường học (bên cạnh tiếng Pháp), các báo tiếng Việt được xuất bản, những thể loại văn học và nghệ thuật mới hình thành, hệ thống trường học từ tiểu học đến trung học và đại học (tuy có những hạn chế lớn) được mở rộng… Tất cả những điều đó đã làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam khác hẳn xa với “xã hội truyền thông”. Dù tình trạng lạc hậu vẫn được duy trì trên nhiều vùng của đất nước – nhất là ở các vùng nông thôn rộng lớn – thì trên cơ thể xã hội Việt Nam đã ló dạng một số yếu tố đáng kể của “xã hội hiện đại”. Nếu như tầng lớp tư sản chỉ mới manh nha, nhưng chưa đủ sức trở thành một lực lượng xã hội lớn mạnh (như trong trường hợp Ấn Độ chẳng hạn), và nếu như tầng lớp vô sản cũng còn ít ỏi (chủ yếu là các phu đồn điền, phu mỏ, còn vô sản công nghiệp chưa được bao nhiêu), thì tầng lớp trí thức có thể nói là đã hình thành khá rõ và bắt đầu chiếm những vị trí xã hội quan trọng. Người ta gọi đó là tầng lớp trí thức “Tân học”, phần lớn từ các trường học – công và tư – thuộc hệ thống giảng dạy theo chương trình giáo dục của thực dân Pháp mà ra. Mục tiêu của hệ thống giáo dục này là truyền bá sự “khai hóa” của người Pháp ở thuộc địa và đào tạo những nhân viên chức mẫn cán cho bộ máy cai trị thuộc địa, nhưng về khách quan, hệ thống này đã đem lại một số “tri thức” cần thiết cho một tầng lớp người ngày càng đông đảo và do đó, tạo ra một giới trí thức mới. Trong giới trí thức này, có đủ các “bậc” (đại học, trung học và tiểu học). Xin nhắc lại rằng khái niệm trí thức cũng rất tương đối. Ở vùng quê tôi, đỗ tiểu học, có bằng primaire, đã được người ta gọi bằng “thầy” rồi, có bằng diplôme thì oai hơn, có bằng baccalauréat càng oai hơn nữa, và có bằng cử nhân thì đã là “của hiếm”. Giới trí thức này làm nhiều nghề khác nhau: viên chức, giáo viên, làm báo, viết sách… và về đại thể chia làm hai bộ phận: viên chức Nhà nước và người làm nghề tự do. Mức sống của giới trí thức cũng rất khác nhau. Và tất nhiên, do những vị trí xã hội khác nhau, trong giới trí thức cũng có nhiều xu hướng tư tưởng khác nhau. Nhưng nói chung, trừ một số trường hợp nào đó, lòng yêu nước và lòng mong muốn canh tân xã hội vẫn tồn tại (sâu sắc hay bàng bạc) trong giới trí thức Việt Nam. Chính cái “mẫu số chung” ấy cắt nghĩa tại sao tuyệt đại đa số giới trí thức nước ta đã hưởng ứng mạnh mẽ và tích cực cuộc cách mạng tháng tám sau này. Nhìn lại các cuộc vận động yêu nước trong hơn 20 năm (từ đầu những năm 20 đến giữa những năm 40) ta thấy rõ giới trí thức Việt Nam nói chung (kể cả học sinh và sinh viên như “dự trữ” của nó) đã đóng vai trò chủ đạo (có người nói tới vai trò “động lực” của tầng lớp tiểu tư sản trong các phong trào yêu nước và cách mạng, xin nêu ra đây để chúng ta cùng suy nghĩ). Có thể nói không chút quá đáng rằng lực lượng chính trị yêu nước và cách mạng nào thu hút được đại đa số giới trí thức Việt Nam, lực lượng đó giành được ưu thế rõ rệt.&lt;br /&gt;Thứ hai, những biến đổi trên trường quốc tế cũng tác động hết sức mạnh mẽ tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở Việt Nam. Cho đến đầu những năm 20, trên thực tế chưa có sự phân hóa tư tưởng theo “giai cấp”, hay nói đúng hơn, theo “hệ tư tưởng giai cấp”. Sự phân hóa chủ yếu hồi đó là ở phương thức giành độc lập dân tộc và thay đổi xã hội: như thường nói, giữa bạo lực và phi bạo lực, hay giữa “cách mạng” và “cải lương”. Với những biến đổi của tình hình thế giới trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, những người yêu nước và tiến bộ ở Việt Nam đứng trước một sự lựa chọn mới. Cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga (1917) làm phân chia thế giới thành hai phía với những giá trị giai cấp (tư sản và vô sản) được đặt thành nền tảng. Các cuộc đấu tranh xã hội – và của dân tộc nữa – từ nay xoay quanh cái trục “giai cấp” này. Yêu nước ư? Đúng, nhưng chưa đủ: Yêu nước theo lập trường giai cấp nào (về chính trị, vấn đề giai cấp nào lãnh đạo phong trào yêu nước được đặt ra). Tiến bộ xã hội ư? Đúng, nhưng chưa đủ: tiến bộ xã hội mang lại lợi ích trước hết cho giai cấp nào (thậm chí từ những “tiến bộ xã hội” mất đi, nhường chỗ cho những từ ngữ “cách mạng xã hội”). Những khái niệm “giai cấp”, “đấu tranh giai cấp” (giữa tư sản và vô sản) vốn được đẻ ra trong các xã hộp phương Tây (nhất là từ giữa thế kỷ XIX trở đi), thì ngày nay cũng được du nhập vào các nước lạc hậu ở phương Đông như những khái niệm cơ bản. Hệ vấn đề của đất nước và xã hội bỗng nhiên thay đổi đến mức hệ vấn đề đặt ra đầu thế kỷ bị đẩy lùi xuống bên dưới. Những từ ngữ như “dân giàu nước mạnh”, “văn minh”… rơi vào quá khứ để không bao giờ được nhắc lại trong sáu, bảy chục năm sau đó, mãi đến đầu những năm 90 mới trở lại.&lt;br /&gt;Thật ra, Cách mạng tháng mười Nga lúc đầu không ảnh hưởng trực tiếp tới những biến đổi tư tưởng và xã hội ở nước ta. Trừ một vài tờ báo có nói tới những sự kiện xảy ra ở nước Nga hồi đó (như tờ Nam Phong chẳng hạn), nói chung dân Việt Nam ít biết tới nó. Dần dần, thông qua những biến đổi tư tưởng và chính trị ở Trung Quốc và ở Pháp, những tư tưởng của Cách mạng Nga mới bắt đầu “gây men” trong một bộ phận yêu nước và cách mạng trẻ tuổi, có học và có xu hướng cấp tiến. Trong những năm 20, ảnh hưởng của Ngũ tứ vận động, của phong trào vô sản và cộng sản, nhất là của sự hợp tác Quốc-Cộng trong thời kỳ Bắc phạt do Tôn Trung Sơn lãnh đạo chống lại bọn quân phiệt thân đế quốc ở phía bắc Trung Quốc, và cuối cùng là ảnh hưởng của sự chia rẽ Quốc-Cộng, kết thúc bằng chính biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch và thất bại của Quảng Châu Công xã. Tất cả những biến động này tác động trực tiếp không những tới những người yêu nước và cách mạng Việt Nam lúc đó còn lưu trú ở Trung Quốc, mà còn gây ra những phản ứng trái ngược nhau trong giới trí thức trong nước.&lt;br /&gt;Đồng thời, với những ảnh hưởng của tình hình Trung Quốc, những sự phân hóa chính trị mới – đặc biệt là sự phân hóa của Đảng Xã hội Pháp thành hai đảng: Đảng Xã hội theo Quốc tế II và Đảng Cộng sản theo Quốc tế III – cũng tác động trực tiếp tới những người Việt Nam yêu nước và tiến bộ đang ở Pháp, cũng như tới bộ phận trí thức cấp tiến trong nước.&lt;br /&gt;Từ giữa những năm 20, với việc Nguyễn Ái Quốc đến Moskva và mở đầu sự cộng tác chặt chẽ với Quốc tế III, ảnh hưởng của Liên bang Xô Viết trở nên ngày càng trực tiếp hơn và mạnh mẽ hơn. Nguyễn Ái Quốc là sự kết tinh của ba nguồn ảnh hưởng ấy, và điều đó đã gây những dấu ấn không phai nhạt tới cái mà một số nhà nghiên cứu nước ngoài gọi là “chủ nghĩa cộng sản Việt Nam”, nhưng đó là điều chúng ta xem xét ở phần sau.&lt;br /&gt;Ở đây, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng: sự phân chia các trào lưu tư tưởng và chính trị theo quan điểm giai cấp (tư sản và vô sản) trên thế giới là nhân tố quan trọng nhất gây ra sự phân hóa trong giới trí thức Việt Nam (ở trong nước cũng như ngoài nước trong những năm 20). Và đây là một sự phân hóa vô cùng phức tạp. Không nói tới những người chủ trương dựa vào chính quyền thực dân để tiến thân về địa vị xã hội và chính trị, ngay cả trong những người yêu nước, chống thực dân và mưu cầu tiến bộ xã hội (theo những quan điểm khác nhau), sự phân hóa cũng diễn ra thật quyết liệt. Một số người tuy vẫn giữ tinh thần yêu nước, với những thái độ khi “cương” khi “nhu” khác nhau, nhưng dứt khoát chống lại chủ nghĩa cộng sản (như Huỳnh Thúc Kháng). Một số thanh niên yêu nước cấp tiến ngả sang sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản ở những mức độ khác nhau, đồng thời, vẫn truyền bá những tư tưởng của cách mạng Pháp 1789 (tiêu biểu là Nguyễn An Ninh). Một số khác lựa chọn con đường trung gian không chống cộng cũng không theo cộng sản, đặt cách mạng quốc gia lên trên “cách mạng thế giới” (tức cách mạng giai cấp) và phỏng theo Quốc dân đảng Trung Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng). Số còn lại từng bước hướng vào chủ nghĩa cộng sản (tiêu biểu là Hồ Tùng Mậu, lúc đầu tham gia Tâm Tâm xã, sau đó tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi trở thành một trong những đảng viên đảng cộng sản đầu tiên). Có người lựa chọn Việt Nam Quốc dân đảng, sau đó chuyển sang Đảng Cộng sản (như Trần Hữu Độ, Trần Huy Liệu). Một điểm cần nhấn mạnh: tất cả những người lựa chọn chủ nghĩa cộng sản đều nung nấu tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Việc lựa chọn chủ nghĩa này trong phần lớn các trường hợp là do nhìn thấy nó đem lại những sức mạnh mới (trong nước và trên thế giới) có thể giúp giải phóng dân tộc một cách có hiệu quả hơn. Nói cách mạng vô sản nhưng chủ nghĩa yêu nước vẫn là một nền tảng tư tưởng của tất cả những người cộng sản.&lt;br /&gt;Như vậy, vào những năm 20, chủ nghĩa cộng sản (mà lúc đầu là chủ nghĩa Lênin và sau đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tuy rằng giữa hai khái niệm đó có khác nhau như đã nói đoạn đầu) được gieo trên một mảnh đất khá thuận lợi của những phong trào yêu nước và cách mạng trong nước. Không phải tất cả những người yêu nước và cách mạng đều theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng rõ ràng nó đã chiếm được trí tuệ và trái tim của một bộ phận đáng kể trong số đó để dần dần trở thành một lực lượng chính trị chủ đạo. Về sau này, bối cảnh lịch sử và xã hội có những thay đổi khác nữa làm cho sự du nhập và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin có những điều chỉnh và phát triển mới (đặc biệt trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai), nhưng về cơ bản, dấu ấn của bối cảnh những năm 20 vẫn rất đậm nét trong lịch sử “chủ nghĩa cộng sản Việt Nam”.&lt;br /&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;&lt;strong&gt;II. Ai du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam?&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Thoạt nhìn, vấn đề này có vẻ đơn giản, và người thường trả lời thật đơn giản: người đầu tiên du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc. Tất nhiên câu trả lời ấy là có căn cứ, nhưng chưa đủ, vì trên thực tế không đơn giản như vậy. Đúng là Nguyễn Ái Quốc là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam (không có ai trở thành đảng viên Đảng Cộng sản từ 1920 như Nguyễn Ái Quốc cả, nếu tính tuổi đảng thì Nguyễn Ái Quốc hơn tuổi đảng của lớp cộng sản đầu tiên khoảng trên dưới 10 năm), và cũng đúng là Nguyễn Ái Quốc là người viết về chủ nghĩa cộng sản sớm nhất trên sách báo cách mạng Việt Nam (lúc đầu là trên Le Paria, trong cuốn Le procès de la colonisation francaise, sau đó là trên tờ Thanh niên và trong cuốn Đường Cách Mệnh). Nhưng không phải chỉ có Nguyễn Ái Quốc làm công việc giới thiệu chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam trong những năm 20. Xin nêu lên vài tên tuổi đã đóng góp vào công việc này: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Đào Duy Anh… Chúng ta biết Phan văn Trường là người từng cộng tác với Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh để khởi thảo ra Bản yêu sách Tám điều do Nguyễn Ái Quốc mang tới Hội nghị Versailles năm 1919. Sau này (1926), ông cùng với Nguyễn Thế Truyền lập ra tờ Việt Nam hồn và giới thiệu chủ nghĩa cộng sản trên tờ báo này. Trên La Cloche Fêlée (1923), từ cuối năm 1925, Nguyễn An Ninh đã cho đăng khá đều đặn những bài của một số lãnh tụ Quốc tế cộng sản hồi đó (Zinoviev, Bukharin, Karl Radek, Gabriel Péri) và đầu năm 1926 cho đăng Tuyên ngôn đảng cộng sản trong tám kỳ báo liền. Đào Duy Anh với Quan Hải tùng thư (nửa sau những năm 20) đã phổ biến một cách khôn khéo chủ nghĩa Mác. Còn có thể dẫn ra những tên tuổi khác. Đối với những người đã được biết và chưa được biết này, chúng ta còn quá ít chú trọng giới thiệu, đó là một bất công lịch sử không nên để kéo dài.&lt;br /&gt;Cũng xin nói rằng những con đường du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin một cách công khai (và có khi hợp pháp), như vậy, tuy có ảnh hưởng đến một phần trí thức nhất định (những người này vừa có trình độ học vấn khá, vừa có “nguồn” tài liệu thuận lợi), nhưng những con đường không hợp pháp, bí mật, vẫn giữ vai trò chính. Những người cách mạng “xuất dương” (chủ yếu là sang Trung Quốc và Pháp) đón nhận chủ nghĩa cộng sản bằng nhiều cách, kể cả dự các lớp huấn luyện rồi đưa vào trong nước. Ở trong nước, các tổ chức cách mạng có xu hướng cộng sản cũng thông qua những “đầu vào” và “đầu ra” của mình để làm công việc này. Đặc biệt, trong những thời kỳ khủng bố mạnh mẽ của thực dân Pháp, như đầu những năm 30 và trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà tù trở thành “trường học chủ nghĩa cộng sản” rất có hiệu quả. Nhiều người cộng sản khi bị tù mới làm quen với lý luận Mác-Lênin một cách kỹ lưỡng hơn. Họ kiếm được những sách báo cộng sản qua con đường bí mật, rồi người hiểu trước giảng lại cho người chưa hiểu. Qua phương tiện truyền miệng ấy, nhiều người “nhập tâm” những gì nghe được và hiểu được để biến thành “vốn liếng lý luận” của mình. (Tôi nhớ sau Cách mạng tháng Tám, khi được dự một lớp huấn luyện chính trị do Xứ ủy Trung bộ mở (tháng 11/1945), những anh em tham gia cách mạng còn “non choẹt” lớp chúng tôi đã say sưa nghe anh Trần Tống giảng về chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong tay chẳng có tài liệu gì, cứ trình bày bằng trí nhớ những gì thu nhận được trong tù gần như thuộc lòng. Về sau đối chiếu lại, thấy những bài giảng này rất khớp với cuốn Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin do Stalin viết năm 1924).&lt;br /&gt;Sau Cách mạng tháng Tám, sự du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin còn qua những con đường khác nữa, “chính quy” hơn: các trường Đảng được mở, một số đảng viên được đi học lý luận ở các trường đảng Trung Quốc và Liên Xô. Nhiều sách báo được dịch ra từ tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Hán và được xuất bản với những số lượng lớn, và cả một số nhà lý luận của Liên Xô, Trung Quốc được mời vào giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường, lớp trong nước (chủ yếu là trường Nguyễn Ái Quốc). Hàng năm, hàng nghìn đảng viên được đào tạo về lý luận qua những con đường “chính thống” này. Nhưng ở đây, xin tập trung nói về sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin từ đầu những năm 20 cho tới Cách mạng tháng Tám là chính.&lt;br /&gt;Qua bức tranh hết sức sơ lược nói trên, có thể phân tích số người tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong những thời kỳ đầu như sau:&lt;br /&gt;Nói chung, đó là những người thuộc “tân học” với những trình độ khác nhau, đại đa số là những người có trình độ tiểu học và trung học. Trong giới “cựu học”, rất hiếm người theo chủ nghĩa cộng sản (kể cả những sĩ phu thời Duy Tân còn lại). Điều đó thật dễ hiểu: chủ nghĩa cộng sản vốn là sản phẩm của văn hóa phương Tây, sử dụng những khái niệm phương Tây, nên những người “tân học” dễ tiếp nhận hơn.&lt;br /&gt;Trừ một số rất ít người tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa cộng sản bằng cách công khai, tuyệt đại đa số làm công việc này bằng những con đường bí mật, bất hợp pháp.&lt;br /&gt;Do những nguồn thu nhập bị hạn chế rất lớn, nên số người hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin một cách có hệ thống, “tận gốc” chỉ là một thiểu số nhỏ. Đại đa số chỉ tiếp nhận nó bằng cách gián tiếp, rất giản lược.&lt;br /&gt;Nhưng trong những điều kiện ngặt nghèo thời thuộc địa, chừng đó cũng đủ để cho những người cộng sản có được một “hành trang lý luận” tối thiểu để có thể hoạt động được cũng như để có thể “chọi” với những xu hướng tư tưởng khác. Ở đây có một điểm cần nói rõ: không phải đa số những người trí thức “tân học” theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tuy lòng yêu nước và ý thức cải cách xã hội (cái thường gọi là “Âu hóa”) của họ vẫn còn khá sâu đậm. Họ từ bỏ di sản nho giáo để chuyển sang tiếp nhận văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp, nhưng không sẵn sàng tiếp nhận chủ nghĩa cộng sản. Dưới mắt họ, chủ nghĩa cộng sản vừa “quá khích” (chủ trương đấu tranh giai cấp theo lập trường giai cấp vô sản), vừa “nguy hiểm” (những người cộng sản chủ trương lật đổ ách thực dân bằng con đường bạo lực). Họ muốn thể hiện lòng yêu nước và sự mong muốn cải cách xã hội một cách ôn hòa hơn, “an toàn” hơn. Lưỡi máy chém và nhà tù thực dân Pháp, cũng như vị trí xã hội của họ, đưa họ tới một sự lựa chọn khác: chủ yếu bằng con đường hoạt động văn hóa và hợp pháp. Chỉ đến thời kỳ cách mạng tháng Tám, một bộ phận trong số họ mới ngả theo con đường cách mạng, đi theo Việt Minh. Và sau đó, trong những điều kiện lịch sử thật đặc biệt, khi yêu cầu giải phóng dân tộc trở nên bức thiết và cũng là khi có những hoàn cảnh thuận lợi hơn (như Hồ Chí Minh nói trong Tuyên ngôn độc lập: “Pháp chạy Nhật hàng”), thì đại đa số giới trí thức ủng hộ cách mạng (lúc này, chính những người cộng sản cũng đặt vấn đề giải phóng lên hàng đầu). Ngày nay nhìn lại, có thể đánh giá một cách bình tĩnh hơn những gì mà giới trí thức “ôn hòa” đã làm cho văn hóa Việt Nam trong những thời kỳ những năm 20-30 là rất quan trọng, nhưng đây là một chủ đề khác.&lt;br /&gt;Một câu hỏi thường được đặt ra trong giới nghiên cứu gần đây: sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam phải chăng là một “tất yếu lịch sử”. Theo tôi có thể nói như vậy, nhưng không nên hiểu “tất yếu lịch sử” như một cái gì có tính định mệnh, mà nên hiểu đó như là kết quả của những quá trình lịch sử nhất định trong một bối cảnh lịch sử nhất định. Không riêng gì ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời kỳ này cũng được du nhập ở nhiều nước khác Trung quốc, Ấn Độ, Indonesia… (chỉ nói tới những nước xung quanh ta). Như đã nói, hệ vấn đề “giải phóng dân tộc” và “hiện đại hóa” xã hội đã thay đổi căn bản vào thời kỳ này, đã biến thành hệ vấn đề “cách mạng xã hội” theo hướng đấu tranh giai cấp. Và ở đây, chính bộ phận cấp tiến trong những người yêu nước và cách mạng ở nước ta cũng đã tỏ ra “thức thời” để khỏi bị “lạc hậu” so với sự phát triển của các cuộc đấu tranh cách mạng trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, sự đàn áp và khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp không để cho người yêu nước cấp tiến có một khả năng hoạt động nào khác ngoài con đường làm cách mạng đến cùng [4] ; chủ nghĩa Mác-Lênin với tính chất cách mạng triệt để của nó (chưa nói tới chuyện đúng sai) rõ ràng đã đáp ứng đầy đủ nhất với con đường cách mạng này (riêng đầu đề Đường cách mệnh do Nguyễn Ái Quốc đặt ra cho cuốn sách huấn luyện của mình đã nói rất rõ điều đó).&lt;br /&gt;Sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam dù có được coi là một “tất yếu lịch sử” đi nữa, cũng không thể coi thắng lợi của cách mạng Việt Nam như là thắng lợi “tất yếu” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thắng lợi ấy, nói đúng hơn, là kết quả một sự điều chỉnh chủ nghĩa Mác-Lênin đến mức G. Boudarel, một nhà nghiên cứu Pháp rất quen thuộc Việt Nam, coi như một sự “tà đạo”. Nhưng đó cũng là chuyện sẽ bàn tới sau.&lt;br /&gt;Cuối cùng, qua bức tranh còn rất sơ lược về những người du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin trước đây, có thể nổi lên một điểm hết sức quan trọng nữa: đó là tính không thuần nhất về xã hội và tư tưởng của họ. Mỗi người mang vào đó những dấu ấn riêng của mình, tùy ảnh hưởng mình tiếp nhận và tùy “tư thế” xã hội và tư tưởng của mình. Hơn nữa, tùy theo nguồn gốc của sự du nhập (Liên Xô, Pháp, hay Trung Quốc từ bên ngoài, và các “lò” huấn luyện bên trong khác nhau – tức các nhà tù khác nhau (Côn đảo Sơn La, Ban Mê Thuột, Lao Bảo…) sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin cũng mang những nội dung khác nhau. Giữa những người cộng sản, ngay từ buổi đầu cho tới cả hôm nay, cách hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin không phải khi nào cũng giống nhau. Đã có những cuộc đấu tranh khá gay gắt giữa những người cộng sản về cách hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin trong từng giai đoạn cách mạng. Những cuộc đấu tranh này được giải quyết nhờ ở hai yếu tố: Thứ nhất, tổ chức và kỷ luật chặt chẽ của Đảng cộng sản, theo nguyên tắc tập trung cao độ do hoàn cảnh hoạt động vô cùng khó khăn trước cách mạng và cũng do chính nguyên lý xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thứ hai, đây là yếu tố quan trọng nhất, uy tín của Nguyễn Ái Quốc trong những người cộng sản Việt Nam, một uy tín gần như tuyệt đối đối với đại đa số đảng viên. Cách hiểu uyển chuyển và riêng biệt của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như về tiến trình cách mạng Việt Nam có sức thuyết phục lớn trong những người cộng sản Việt Nam, nhất là vào những bước ngoặt hết sức phức tạp của cách mạng Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;strong&gt; &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;&lt;strong&gt;III. Du nhập những gì?&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam không đơn giản như có người tưởng. Bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin trải qua những cách lý giải khác nhau, với những điểm nhấn mạnh từng lúc khác nhau. Nó không phải là một hệ thống lý luận thuần túy, mà gắn chặt với những chủ trương chính trị từng lúc, và mỗi lần đường lối chính trị thay đổi là một lần có sự lý giải khác đi về mặt lý luận. Điều đó nhiều khi đặt người cộng sản vào những hoàn cảnh thật khó xử. Những nội dung của nó cũng được bổ sung dần dần, từ chỗ sơ lược đến chỗ ít sơ lược hơn, từ những dự báo ban đầu đến những kết luận. Trong một thời gian dài, từ những năm 30, tức là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, trung tâm lý giải và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin là Moskva. Tuy không hình thành một “giáo hội”, nhưng trên thực tế chúng ta cũng thấy một cái gì tương tự. Stalin, với những tác phẩm và những bài phát biểu của ông, đóng vai trò “giáo chủ”. Mọi ý kiến của Stalin được coi như những “chân lý cuối cùng”, những chuẩn mực để phân biệt đúng sai trong phong trào cộng sản quốc tế. Không những các vấn đề chung của thế giới, mà cả nhiều vấn đề trong từng nước có đảng cộng sản hoạt động, những ý kiến của Stalin thường được viện dẫn ra làm căn cứ, làm phương pháp. Tôi nhớ đầu năm 1950, khi học trường Nguyễn Ái Quốc, có một vài đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng đến giảng và đưa ra một vài nhận xét về những sai lầm về đường lối của Trung ương Đảng lúc đó (như về chủ trương “chuyển sang tổng phản công”, về vấn đề ruộng đất…). Mặc dầu Tổng Bí thư hồi đó (Trường Chinh) đã giải thích lại và bác bỏ những ý kiến phê phán này, nhưng chưa đủ sức thuyết phục. Một buổi tối tháng Năm, Cụ Hồ đến. Cụ rất nghiêm như ít khi thấy. Cụ nói thẳng vào những ý kiến phê phán Trung ương của một số cán bộ và nói: “Bác vừa đi Liên Xô về. Bác đã gặp đồng chí Stalin, đã trình bày đường lối của đảng ta với đồng chí Stalin. Nghe xong, đồng chí Stalin nhận xét: đường lối của Đảng các đồng chí là đúng. Mà đồng chí Stalin đã nói đúng là đúng, vì đồng chí Maurice Thorez nói, đồng chí Stalin là người không bao giờ sai cả”. Cả lớp im lặng và cảm thấy được thuyết phục hoàn toàn. Ví dụ nhỏ vừa nói cho thấy uy quyền của Stalin về mặt tư tưởng và lý luận đến mức nào. Không chỉ ở nước ta, ở một số nước khác cũng vậy. Chẳng hạn năm 1948, G. Dimitrov, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bulgari (trước đó là Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản), đã đưa ra luận điểm về con đường dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội khác với con đường xô viết, đó không phải là con đường chuyên chính vô sản. Stalin bác bỏ ngay luận điểm này và khẳng định: xô viết và dân chủ nhân dân chỉ là hai hình thức khác nhau của cùng một con đường chuyên chính vô sản, thực chất của dân chủ nhân dân cũng là chuyên chính vô sản. Dimitrov phải rút bỏ ý kiến của mình ngay. Có thể kể ra rất nhiều những ví dụ như vậy.&lt;br /&gt;Chúng ta không chỉ tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin từ Liên Xô, từ Stalin, mà còn từ Trung Quốc, từ Mao Trạch Đông nữa. Trong nhận thức của những người cộng sản Việt Nam trước đây, Mao Trạch Đông là một nhà mácxít-lêninnít vĩ đại, có công áp dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin ở Trung Quốc và ở các nước Châu Á. Sự du nhập chủ nghĩa Mao từ những năm 40 đến những năm 60 đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống lý luận và tư tưởng của những người cộng sản Việt Nam [5] . Thậm chí có thể nói tới một sự sao chép gần như nguyên xi một số luận điểm của Mao: ba phương châm “dân tộc, khoa học, đại chúng” trong lĩnh vực văn hóa “dân chủ mới” rồi “chuyên chính dân chủ nhân dân” trong lĩnh vực chính trị “ba giai đoạn” trong lĩnh vực quân sự, “chỉnh phong, chỉnh đảng” trong lĩnh vực xây dựng đảng, rồi “cải tạo xã hội chủ nghĩa”, “hợp tác hóa nông nghiệp”, rồi đấu tranh “chống chủ nghĩa xét lại hiện đại” trong lĩnh vực tư tưởng v.v… và v.v… Nói cách khác, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông cũng được coi là “chính thống” của chủ nghĩa Mác-Lênin ở nước ta. Nhiều người cộng sản Việt Nam, khi tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, thật ra rất ít đọc thẳng từ Marx, Engels và Lenin, mà chủ yếu là “nhập môn” bằng những tác phẩm của Stalin và Mao Trạch Đông. Tiếc thay, vấn đề này chưa bao giờ được làm rõ đến mức cần thiết cả. Nói như vậy, để thấy rằng cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” được du nhập vào Việt Nam về cơ bản là “chủ nghĩa Stalin” và “chủ nghĩa Mao”. Những người trực tiếp đọc Marx, Engels và Lenin thật ra chỉ là một số rất ít trong thời kỳ trước cách mạng, và về sau này tuy số người đó có tăng lên (chủ yếu trong số cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận) nhưng vẫn còn ít ỏi.&lt;br /&gt;Trong thời gian gần đây những sai lầm của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao được nhiều người nhận rõ qua những hậu quả hết sức tai hại đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, vì thế, được điều chỉnh lại cho phù hợp với hoàn cảnh mới, nhưng công cuộc điều chỉnh này thật ra cũng chưa thật mạnh mẽ và triệt để, di sản của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao vẫn còn được giữ nguyên trên nhiều vấn đề căn bản. Vả chăng, vấn đề không phải là “điều chỉnh” vấn đề được đặt ra ở một chiều sâu hơn nhiều: đó chính là vấn đề “tồn tại” của chủ nghĩa Mác-Lênin. Và bây giờ, rõ ràng chúng ta đứng trước một bức tranh hỗn loạn. Những người muốn bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin trên thực tế vẫn bị chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao cầm tù. Trong khi đó, một số ngày càng nhiều người thấy rõ tính chất lỗi thời của chủ nghĩa Mác-Lênin và lên tiếng phê phán và bác bỏ nó. Tình hình ấy phải chăng báo hiệu giai đoạn kết thúc quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta? Xin để cho thời gian phán xét.&lt;br /&gt;Sự du nhập một học thuyết không bao giờ là quá trình một chiều từ ngoài vào, mà bao giờ cũng là quá trình hai chiều, vì có sự tiếp nhận từ bên trong. Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải ngoại lệ. Ở trường hợp Việt Nam, có thể nói chiều thứ hai, chiều tiếp nhận chủ động từ bên trong, là rất mạnh (chiều bên trong này bao gồm cả ở những người cách mạng Việt Nam ở ngoài nước, vì nói chung họ gắn bó rất mật thiết với những phong trào cách mạng trong nước). Nhưng chính chiều thứ hai này, trong khi góp phần du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin từ ngoài vào như một nhân tố ngoại sinh (exogène), đã làm cho nó thích ứng với những nhu cầu bên trong, lai ghép với “cơ địa” Việt Nam để rồi, trong trường hợp thành công nhất, trở thành một nhân tố “nội sinh” (endogène). Và khi đó, chủ nghĩa Mác-Lênin không còn giữ nguyên dạng của nó nữa, mà có những biến hóa nào đó. (Tình hình này về cơ bản giống như Khổng giáo du nhập Việt Nam ngày xưa, một đằng thì trải ra hàng trăm năm, một đằng chỉ trong vòng vài chục năm). Như đã nói, ở Việt Nam, hệ vấn đề đặt ra đầu thế kỷ là độc lập dân tộc và canh tân xã hội. Hai yêu cầu này vẫn còn nguyên khi chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào nước ta.&lt;br /&gt;Bộ phận cấp tiến trong những người yêu nước và cách mạng từ những năm 20 tuy tiếp nhận hệ vấn đề mới của thời đại, lấy “trục giai cấp” làm chính, nhưng thứ nhất, không ai bỏ quên hai yêu cầu nói trên và thứ hai, đây là cái chủ yếu, coi hệ vấn đề mới là sự “tiếp sức” có hiệu quả hơn để giải quyết hệ vấn đề vốn có. Nói cụ thể hơn, những người tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung đều xuất phát từ lòng yêu nước và khát vọng canh tân xã hội (hiện đại hóa) và lấy nó làm “vũ khí” của mình. Hồ Chí Minh nhiều lần nói tới chủ nghĩa yêu nước đưa mình tới chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nói tơi xu hướng chung nhất của lớp người tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin đầu tiên, tuy trong những hoàn cảnh có khác nhau. Và không chỉ lớp cộng sản đầu tiên, cả những lớp cộng sản sau này (cho đến năm 1975) và đại thể cũng như vậy, mặc dầu động cơ trở thành cộng sản có thể mang thêm một số yếu tố khác (tiến thân, quyền lực v.v…).&lt;br /&gt;Đọc lại những tài liệu lịch sử của phong trào cộng sản lúc đầu, có thể nhận thấy rất rõ một trong những “chất nền” (substance) của phong trào cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và khát vọng tiến bộ xã hội của những bộ phận quần chúng rộng lớn. Không phải chỉ riêng những người cộng sản mới có “chất nền” này, nhiều người, nhiều bộ phận khác (kể cả những người chống lại chủ nghĩa cộng sản) cũng có. Chỉ có khác là những người cộng sản là bộ phận cấp tiến hơn, họ muốn tìm thấy những vũ khí mạnh hơn, phù hợp với xu hướng cách mạng bạo lực của họ trong bối cảnh lịch sử mới của thế giới và đất nước. Thứ vũ khí họ tìm thấy đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Yêu nước và khát vọng tiến bộ xã hội cộng với xu hướng cấp tiến, bạo lực phải chăng đó là “mẫu số chung” của các lớp người đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin ở nước ta?&lt;br /&gt;Ở đây, có một vấn đề đã và đang được thảo luận trong nước và cả ở ngoài nước là: đối với những người cộng sản Việt Nam, giữa hai nhân tố “dân tộc” và “giai cấp”, nhân tố nào chiếm vị trí chủ đạo? Cụ thể hơn, đối với Hồ Chí Minh, có người đặt câu hỏi: đối với ông chủ nghĩa cộng sản là phương tiện để giành giải phóng dân tộc, hay giải phóng dân tộc là phương tiện để thực hiện chủ nghĩa cộng sản? Theo dõi cuộc tranh luận này, có thể thấy rõ hai ý kiến ngược hẳn nhau. Một bên đặt “giải phóng dân tộc” lên hàng đầu, còn bên kia thì đặt “giai cấp”, “chủ nghĩa cộng sản” lên hàng đầu. Và bên nào cũng đưa ra những luận cứ riêng của mình, Huỳnh Kim Khánh, tác giả cuốn &lt;em&gt;Vietnamese Communism 1925-1945&lt;/em&gt; (Cornell University Press 1982), lấy vấn đề này làm cốt lõi cho công trình nghiên cứu của mình, trình bày những ý kiến của mình dựa vào rất nhiều tài liệu lịch sử phong phú và đáng tin cậy. Nhưng cuối cuốn sách, tác giả vẫn chưa đi tới kết luận rõ ràng. Câu hỏi vẫn được treo ở trang cuối là: “Trong sự kết hợp hệ tư tưởng cộng sản với chủ nghĩa yêu nước trong sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin phải chăng là cỗ xe chuyên chở chủ nghĩa yêu nước Việt Nam? Hay chủ nghĩa yêu nước đã được lợi dụng để bành trướng hệ tư tưởng cộng sản? (tr. 341). Tiếc thay, ông mất đột ngột vì trụy tim ở Mỹ và không tiếp tục được công trình hết sức thú vị của mình.&lt;br /&gt;Đây không chỉ là một vấn đề học thuật, mà còn là một vấn đề luôn luôn nảy sinh và được giải quyết đi giải quyết lại trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Và theo tôi hiểu, vấn đề này cũng đang được đặt ra ngay cả trong quá trình “đổi mới” hiện nay.&lt;br /&gt;Tôi xin có một số ý kiến về vấn đề này. Trước hết, cần nhìn lại thực tế vốn có, mà không phải theo suy diễn. Và để được thuận tiện, xin lấy trường hợp của Hồ Chí Minh, người cộng sản đầu tiên và cũng là người có uy tín nhất trong phong trào cộng sản Việt Nam, để phân tích. Theo tôi, ở Hồ Chí Minh, không có vấn đề cái gì là chính, là chủ đạo giữa hai nhân tố “dân tộc” và “giai cấp”. Ở ông, hai nhân tố quyện lại thành một, không thể phân chia. Đọc lại toàn bộ tác phẩm của ông, theo dõi toàn bộ hoạt động của ông (mà về đại thể đã có thể nắm bắt được, trừ một vài “lỗ hổng” nào đó cần tiếp tục tìm kiếm), không ai có thể nghi ngờ lòng yêu nước của ông, cũng như không ai có thể nghi ngờ tín niệm cộng sản (conviction communiste) của ông. Ông là nhà yêu nước lớn, là một trong những lãnh tụ nổi tiếng của phong trào giải phóng dân tộc – điều đó đã được nhìn nhận khá đầy đủ. Chỉ riêng một việc ông bị những đồng chí của mình phê phán là theo chủ nghĩa quốc gia (tức chủ nghĩa dân tộc) vào đầu những năm 30, cũng đủ để chứng minh điều này. Trong cuốn sách của Huỳnh Kim Khánh, ta đọc thấy mấy trang nói rất rõ về chuyện này (trước đó, trong một cuốn sách viết về Cách mạng Việt Nam, Daniel Hémery cũng có viết về chuyện này, và lần đầu tiên tôi biết được việc Ban lãnh đạo Hải ngoại của ĐCSĐD phê phán Nguyễn Ái Quốc chính là từ cuốn sách của tác giả người Pháp ấy). Huỳnh Kim Khánh, dựa vào nhiều tài liệu có thật, cho ta biết sau 1931 Nguyễn Ái Quốc bị phê phán là mắc “tàn tích tiểu tư sản”, cuốn Đường cách mệnh bị coi là một “tài liệu nồng nặc mùi quốc gia chủ nghĩa” và việc ông chủ trương dùng bạo lực tối thiểu chống lại các thế lực phản cách (trung lập hóa địa chủ và tư sản) bị tố cáo là “cơ hội chủ nghĩa”, kìm hãm sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương. Hồng Thế Công, bí danh của một người lãnh đạo Đảng hồi đó (mà người ta cho rằng đó là Hà Huy Tập) kịch liệt công kích Nguyễn Ái Quốc trên Tạp chí Bônsơvích (số 8/12-1934) [6] :&lt;br /&gt;“Công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với chúng ta thật to lớn, nhưng các đồng chí chúng ta không được quên những tàn tích quốc gia chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc và những chỉ thị sai lầm của đồng chí ấy về những vấn đề căn bản của phong trào cách mạng tư sản dân quyền và những lý luận cơ hội của đồng chí ấy bám rễ vào đầu óc của phần đông đồng chí chúng ta, giống như những tàn tích tư sản vẫn sống dai dẳng trong đầu óc những hội viên Thanh Niên, Tân Việt và Vừng Hồng.&lt;br /&gt;Nguyễn Ái Quốc không hiểu được những chỉ thị của Quốc tế cộng sản; không hợp nhất được ba tổ chức cộng sản từ trên xuống dưới… Tài liệu Sách lược vắn tắt của Đảng và Điều lệ của Đảng hợp nhất không theo đúng chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Ngoài ra Nguyễn Ái Quốc còn chủ trương một sách lược cải lương và hợp tác: “trung lập tư sản và phú nông”, “liên minh với địa chủ nhỏ và vừa”, v.v… Vì những sai lầm đó, nên từ tháng Giêng đến tháng Mười năm 1930, ĐCSĐD đã đi theo một chiến lược có nhiều điểm trái với những chỉ thị của Quốc tế cộng sản, tuy trong thực tế đã lãnh đạo quần chúng kiên quyết đấu tranh cách mạng” (Huỳnh Kim Khánh, sách đã dẫn, tr. 185).&lt;br /&gt;Nhiều bằng chứng sau đó cho thấy Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đặt giải phóng dân tộc lên cao nhất, đặc biệt là trong thời kỳ Việt Minh 1941-1945, trong cách mạng Tháng Tám và kháng chiến, thậm chí vì lợi ích dân tộc đã chủ trương công khai giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 11/1945), dù rằng trên thực tế Đảng vẫn hoạt động. Đối với tuyệt đại đa số những người cộng sản cho đến năm 1975, vấn đề dân tộc vẫn được đặt lên cao nhất.&lt;br /&gt;Thế thì Hồ Chí Minh và những người cộng sản khác có thật sự là những người cộng sản kiên định và trung thành không? Theo tôi, đúng là như vậy. Trừ một số người vào đảng với tính toán cơ hội chủ nghĩa (nhất là từ khi đảng cộng sản cầm quyền), coi đó là “bằng đỏ” để tiến thân, nói chung, đó là những người chân thành tin theo chủ nghĩa cộng sản dù rằng trình độ lý thuyết của số đông còn thấp (và cũng không thể khác thế được).&lt;br /&gt;Trong tập sách &lt;em&gt;Hồ Chí Minh – Sa vie et son oeuvre&lt;/em&gt; (Paris, 1990), một số ngòi bút người Việt và người Pháp đưa ra nhiều bằng chứng để chứng minh rằng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước sau vẫn trung thành với cộng sản, vẫn là người triệt để tuân theo đường lối của Quốc tế cộng sản, của Stalin. Nhiều tài liệu họ đưa ra, theo tôi là có thật. Về mặt này, họ không sai. Nhưng dụng ý của họ là từ chỗ đó để bác bỏ tinh thần dân tộc, sự nghiệp giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam. Vì bây giờ chế độ cộng sản sụp đổ ở một loạt nước, chủ nghĩa cộng sản bị coi là “tội lỗi”, nên họ muốn đặt Hồ Chí Minh và những người cộng sản khác vào ghế bị cáo của lịch sử. Đới với họ, nếu đã là yêu nước thì không thể là cộng sản, và nếu là cộng sản thì không thể là người yêu nước. Sự thật lịch sử chứng minh hoàn toàn khác. Người ta có thể vừa là yêu nước vừa là cộng sản. Cũng như người ta có thể là yêu nước mà không phải là cộng sản. Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin mang hai nội dung chủ yếu đối những người cộng sản: Thứ nhất, nó là phương tiện và điều kiện có hiệu quả nhất, thuận lợi nhất để giành giải phóng dân tộc; Thứ hai, nó đề xướng những lý tưởng xã hội cao đẹp nhất, những lý thuyết đưa tới giải phóng xã hội và con người khỏi mọi áp bức bóc lột. Vì thế, người cộng sản vừa chân thành mưu cầu giải phóng dân tộc, lại vừa chân thành tin theo lý tưởng và lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản. Về sau này, hai mặt đó dần dần tách khỏi nhau qua sự thể nghiệm lý thuyết cộng sản ở Việt Nam (mà dưới đây sẽ trở lại với điều này). Còn trong một thời gian dài, hai mặt ấy không tách khỏi nhau trong tâm thức của những người cộng sản. Di chúc của Hồ Chí Minh là bằng chứng nổi bật nhất, ở đó con người yêu nước-cộng sản là nguyên khối.&lt;br /&gt;Hãy gác lại một bên ý kiến của một số người cho rằng không cần tới chủ nghĩa Mác-Lênin, nhiều nước thuộc địa và nửa thuộc địa vẫn giải phóng mình khỏi ách thực dân. Cách đặt vấn đề như vậy không giúp gì thêm cho nhận thức về lịch sử Việt Nam mấy. Các quá trình lịch sử bao giờ cũng rất hiện thực, rất cụ thể. Những suy luận trừu tượng, theo lối “giả định”, có thể có ích trong lĩnh vực nhận thức nào đó (các khoa học kỹ thuật có tính chính xác cao, chẳng hạn), nhưng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn thì phương pháp đó ít có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là: chủ nghĩa Mác-Lênin giúp được những gì (hay không giúp được gì) cho những người cộng sản trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam (tôi nhấn mạnh: ở Việt Nam)? Xin trả lời: giúp được nhiều, rất nhiều với điều kiện (và trên thực tế đã có điều kiện ấy), những người cộng sản đặt đúng vấn đề về dân tộc, nói cụ thể hơn, đặt “dân tộc” lên trên “giai cấp”. Sở dĩ phải nói đến điều kiện không thể thiếu này, vì không phải không có một số người cộng sản nào đó đặt ngược lại và do đó, đã dẫn tới những hậu quả tai hại cho giải phóng dân tộc đã đành mà còn cả cho chính bản thân đảng cộng sản (như trong thời kỳ Xô viết Nghệ An 1930-1931).&lt;br /&gt;Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp được những gì?&lt;br /&gt;Trong bối cảnh thế giới và trong nước từ giữa những năm 20 đến giữa những năm 70, chủ nghĩa Mác-Lênin giúp tìm kiếm những sức mạnh mới để đấu tranh giải phóng dân tộc. Như đã biết, những người yêu nước và cách mạng trước đó cũng đã làm công việc này nhưng không thành công. Ở bên trong, những người cộng sản hướng tới các tầng lớp “bên dưới” hơn là các tầng lớp “bên trên”, tức là hướng tới những khối quần chúng nhân dân đông nhất, vừa giàu lòng yêu nước lại vừa có khát vọng công bằng xã hội mạnh mẽ nhất (đó cũng là hai nét tâm thức truyền thống của người Việt). Với những người cộng sản, các tầng lớp “bên dưới” được huy động ngày càng rộng lớn vào đấu tranh giải phóng dân tộc, mà tiêu biểu nhất trong các cuộc biểu tình khởi nghĩa hồi tháng Tám 1945 và sau đó trong các cuộc kháng chiến chống ngọai xâm. Những tầng lớp này, trước kia thường bị coi như những lực lượng ủng hộ và tham gia các phong trào yêu nước một cách thụ động, thì bây giờ họ được coi là lực lượng chính, với ý thức chủ động ngày càng lớn. Tính nhân dân của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước hết là ở chỗ đó. Đi đôi với điều căn bản này, những người cộng sản Việt Nam, bằng những thái độ uyển chuyển và khôn khéo của mình, còn liên kết được với những bộ phận nhất định trong các tầng lớp “bên trên” tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc. Và trong những giờ phút có tính bước ngoặt lịch sử, đặc biệt trong cách mạng Tháng Tám 1945 và một thời gian sau đó, đúng là những người cộng sản đã lập được một Mặt trận thống nhất dân tộc ở một trình độ rộng lớn chưa từng thấy. Tính toàn dân của cách mạng giải phóng dân tộc được thể hiện khá đầy đủ. Nhà sử học Pháp P. Devillers được nhắc tới trên đây, trong Histoire du Viet Nam de 1940 a 1952 (Ed. Du Seuil, Paris), đã nói tới điều này không thể nào đúng hơn&lt;br /&gt;“Những niềm hy vọng, những mối oán hận, những say sưa bị đẩy lùi từ hàng chục năm nay đột nhiên nổ ra trong một sự hăng hái kỳ lạ, một nhiệt tình tập thể mà lịch sử dân tộc chưa hề thấy, toàn thể nhân dân chan hòa với nhau trong một điều thần bí là Độc lập. Họ tìm thấy sự hùng mạnh và thống nhất của mình. Không có một việc gì đối với họ là không thể làm được (trích theo Nguyễn Kiến Giang, Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, NXB Sự thật, Hà Nội 1961, trang 20).&lt;br /&gt;Ở bên ngoài, những người cộng sản cũng tìm kiếm những sức mạnh mới làm chỗ dựa của công cuộc giải phóng dân tộc. Trong thời đại mới, phong trào giải phóng dân tộc nào không tìm được những chỗ vựa vững chắc ở bên ngoài thì chắc chắn không thể thành công được. Trước đó, vấn đề này cũng được đặt ra với các nhà yêu nước và cách mạng cũ (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh là những nhân vật tiêu biểu). Những chỗ dựa họ muốn tìm và cũng tìm được phần nào, nói chung là không thể tin cậy, vì thế họ không thể thành công. Bây giờ chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho những người cộng sản Việt Nam tìm được những sức mạnh mới, trước đó chưa có, và những sức mạnh này tỏ ra là đáng tin cậy. Tính giai cấp của phong trào cộng sản và vô sản trên thực tế đã mang lại cho những người cộng sản Việt Nam sự đoàn kết và ủng hộ của những người cộng sản Pháp, Nga, Trung Quốc,… Và qua đó, của một bộ phận vô sản cũng như một bộ phận giới trí thức (“trí thức tiến bộ”, như người ta thường gọi vậy) ở các nước đó. Cũng cần nói thêm sự đoàn kết của các dân tộc thuộc địa ở những vùng xa xôi hay gần gũi thông qua những tổ chức chống đế quốc khác nhau. Về phần mình, những người cộng sản cũng đoàn kết và ủng hộ những phong trào cách mạng và vô sản ở nhiều nước khác. Cần đặc biệt nhất mạnh một điểm hết sức quan trọng: sự ủng hộ của các đảng cộng sản đã nắm chính quyền, trước hết là ĐCSLX, hoặc trực tiếp, hoặc thông qua Quốc tế cộng sản. Đây không chỉ là ủng hộ về mặt tinh thần, mà cả về mặt tổ chức và vật chất, về ảnh hưởng trực tiếp của Liên Xô trong chiến tranh chống phát xít, của sức mạnh kinh tế và quân sự của Liên Xô, và về sau này của ĐCSTQ sau khi đảng này nắm chính quyền. Nhiều người cộng sản được đào tạo từ các nước này, nhiều nguồn viện trợ vũ khí, kỹ thuật… cũng đến từ các nước này. Tất cả những sự đoàn kết và ủng hộ ấy được những người cộng sản gọi một cách đầy phấn khởi và tin tưởng là “chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Những người cộng sản và nhân dân Việt Nam đóng vai trò nhân tố “chủ quan” một cách đầy đủ và thật chủ động, nhưng không thể nào giải thích những thắng lợi của những người cộng sản Việt Nam mà bỏ qua hoặc đánh giá thấp nhân tố “khách quan” ấy. Dù trong sự đoàn kết và ủng hộ theo “chủ nghĩa quốc tế vô sản” ấy có xen lẫn những yếu tố không lành mạnh (vị kỷ, nước lớn, áp đặt…) thì không vì thế mà có thể phủ nhận nó như một thực tế hiển nhiên. Ưu thế của những người cộng sản Việt Nam so với những người yêu nước và cách mạng trước kia là ở đó.&lt;br /&gt;Chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho những người cộng sản và một bộ phận rộng lớn trong nhân dân Việt Nam có được những lý tưởng xã hội làm linh hồn cho các cuộc đấu tranh giải phóng. Nhìn lại lịch sử, ở nước ta cũng như nhiều nước khác, phong trào giải phóng dân tộc nào cũng đi theo những lý tưởng xã hội nào đó. Yêu nước và giải phóng đất nước không bao giờ là lý tưởng riêng biệt, mà thường gắn với những lý tưởng, những học thuyết xã hội khác nhau (chủ nghĩa Gandhi, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, chủ nghĩa Kémal…). Câu hỏi của những người dân mất nước bao giờ cũng là: sau khi giành được độc lập dân tộc rồi, chế độ xã hội nào đến với mình? Đó là câu hỏi liên quan với số phận từng con người với tư cách con người. Chủ nghĩa cộng sản đem lại một câu trả lời rành mạch: đó là một xã hội không có người bóc lột người, một xã hội công bằng, không có giàu nghèo, không có của riêng, mọi thứ đều là của chung cả. Tất nhiên, không phải ai cũng tán thành lý tưởng đó. Nhưng số đông người dân đang sống nghèo cực, đó là lý tưởng hết sức hấp dẫn. Nhất trong những hoàn cảnh như của Việt Nam, với tâm thức cộng đồng còn mạnh, với lý tưởng một xã hội “đại đồng” còn phảng phất màu sắc chủ nghĩa bình quân, với khát vọng “đổi đời” nhanh chóng thì lý tưởng đó rất hợp với “thể tạng” đại đa số người, nếu không nói là tất cả những người cộng sản Việt Nam và những người đi theo họ đều gắn lòng yêu nước, ý chí giải phóng dân tộc với những lý tưởng công bằng xã hội ấy. Ngây thơ ư? Có thể là thế, nhưng đó là một sự thật. Cuộc sống sau này, khi bắt tay xây dựng một xã hội mới theo những lý tưởng đó, dần dần mở mắt cho mọi người để thấy rằng những lý tưởng ấy mang “tính không tưởng vĩ đại”, nhưng đó là chuyện về sau. Còn trong tiến trình đấu tranh giải phóng, những lý tưởng xã hội do chủ nghĩa Mác-Lênin đề xướng đã đóng đầy đủ vai trò “chính ủy” của nó.&lt;br /&gt;Chủ nghĩa Mác-Lênin đem lại cho những người cộng sản Việt Nam một phương pháp tổ chức lực lượng đối với bản thân mình và đối với quần chúng đông đảo rất có hiệu quả. Có nhà nghiên cứu nước ngoài gọi đó là “kỹ thuật tổ chức” của cộng sản, và gọi như vậy không có gì sai. ĐCSVN được tổ chức theo “đảng kiểu mới” của Lênin, tỏ ra rất có hiệu quả trong đấu tranh, nhất là khi phải đương đầu với những thế lực thù địch mạnh hơn nó rất nhiều. Một đảng chiến đấu, với kỷ luật thép để bảo đảm sự lãnh đạo tập trung từ trên xuống dưới, để bảo toàn lực lượng đến mức cao nhất trong những hoàn cảnh khủng bố và chiến tranh – những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra được một đảng như vậy. Và bằng những hình thức, những phương thức tổ chức vừa uyển chuyển, vừa chặt chẽ, ĐCSVN đã tạo ra được cả một mạng lưới tổ chức quần chúng chặt chẽ ngày càng sâu rộng, tới tận ngõ ngách thành phố, làng mạc, thâm nhập các tầng lớp xã hội khác nhau. Thành công của những người cộng sản Việt Nam, ở một mức độ rất lớn, là thành công về mặt tổ chức. Và thành công này chính là bắt nguồn từ học thuyết về tổ chức đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.&lt;br /&gt;Tóm lại, với chủ nghĩa Mác-Lênin, những người cộng sản Việt Nam có được những sức mạnh mới, những lý tưởng xã hội mới, những phương thức tổ chức mới, những yếu tố này làm tăng thêm rất nhiều sức chiến đấu giành giải phóng dân tộc và làm cách mạng xã hội.&lt;br /&gt;Về chủ nghĩa cộng sản với tư cách một xã hội tương lai, thì trong thời gian đầu, từ giữa những năm 20 đến giữa những năm 50, nó chỉ mới hiện ra dưới dạng lý tưởng xã hội. Mặc dù rải rác đây đó có nói tới chủ nghĩa xã hội như một chế độ xã hội hiện thực ở Liên Xô trên báo chí bí mật và công khai của đảng cộng sản (rất tiếc là Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc, một tập sách nhỏ viết về xây dựng xã hội mới ở Liên Xô, đã bị thất lạc). Phải đến sau khi giải phóng miền Bắc, tức là khi vấn đề chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa được Đảng Cộng sản chính thức đặt ra, thì những lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mới được du nhập như một học thuyết. Và điều này cũng chỉ được làm dần dần, vừa về lý luận, vừa bằng kinh nghiệm.&lt;br /&gt;Trên thực tế, những lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội đó chủ yếu là dựa vào những tác phẩm của Stalin (những báo cáo, những bài nói, những bài viết của Stalin từ cuối những năm 20 đến cuối những năm 30, và sau đó là tác phẩm Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô năm 1951), tất cả đều được coi như những tác phẩm kinh điển. Toàn bộ “hành trang lý luận” của những người cộng sản Việt Nam khi bước vào giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa là ở đó. Nhưng có hai điểm cần chú ý:&lt;br /&gt;1. Từ sau đại hội ĐCSLX lần thứ XX (1956), một số luận điểm của Stalin về chủ nghĩa xã hội bị phê phán và được điều chỉnh lại theo hướng coi trọng hơn sản xuất hàng hóa dưới chủ nghĩa xã hội theo quy luật giá trị và phi tập trung hóa quản lý kinh tế. Nhưng nói chung, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội (gọi là “mô hình Xô Viết”) đã hình thành từ thời Stalin vẫn giữ được về cơ bản.&lt;br /&gt;Bên cạnh “mô hình Xô Viết”, những người cộng sản Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng những bài học về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc (công thư hợp doanh trong lĩnh vực công thương nghiệp, hợp tác hóa trong lĩnh vực nông nghiệp, “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” trong xây dựng chủ nghĩa xã hội…). Về thực chất đó cũng là một “mô hình Xô viết” nhưng có “cải biên” cho phù hợp với tình hình Trung Quốc.&lt;br /&gt;Về đại thể lý luận Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội có thể tóm tắt như sau:&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Chủ nghĩa cộng sản gồm có hai giai đoạn: chủ nghĩa xã hội (bậc thấp) và chủ nghĩa cộng sản (bậc cao).&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với những nội dung chủ yếu: cải tạo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và cá thể thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức sở hữu chính: Nhà nước (toàn dân) và tập thể (hợp tác xã); công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa; tập thể hóa (hợp tác hóa) nông nghiệp; cách mạng văn hóa và tư tưởng (bảo đảm cho hệ tư tưởng Mác-Lênin thành hệ thống trị duy nhất và phổ biến toàn xã hội).&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Bảo đảm sự lãnh đạo duy nhất và vững chắc của đảng cộng sản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ yếu bằng Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà thực chất là chuyên chính vô sản.&lt;br /&gt;*&lt;br /&gt;Chủ nghĩa quốc tế vô sản trong đấu tranh cách mạng chuyển thành chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa trong xây dựng chủ nghĩa xã hội (hợp tác, phân công lao động quốc tế xã hội chủ nghĩa, đoàn kết, thống nhất trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới để chống lại, đẩy lùi và thủ tiêu hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới…).&lt;br /&gt;Phải nói rằng trong những người cộng sản Việt Nam từ giữa những năm 50 đến đầu những năm 60, vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiếp nhận một cách vô vùng hoan hỉ và với niềm tin mãnh liệt (Hồ Chí Minh: “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thang”, 1961). Những biến động xảy ra trong phe xã hội chủ nghĩa hồi đó, như các sự kiện Hungari; và Balan năm 1956, cuộc đấu tranh về quan điểm giữa ĐCSLX và ĐCSTQ dẫn tới sự chia rẽ trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế… dù có gây ra những phân vân nào đó, cũng không lay chuyển được niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa của những người cộng sản Việt Nam.&lt;br /&gt;Nhân đây, xin nói một chút về cuộc đấu tranh tư tưởng trong phong trào cộng sản quốc tế, chủ yếu là giữa ĐCSLX và ĐCSTQ từ cuối những năm 50 đến những năm 70. Về thực chất, đây là cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng khác nhau về xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, hai mặt này gắn chặt với nhau rất khắng khít. Trong khi ĐCSTQ và những người tán thành nó về cơ bản vẫn duy trì “mô hình Stalin” về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hơn nữa còn đẩy những mô hình đó tới những chỗ cứng rắn hơn, cực đoan hơn, thì ĐCSLX và những người tán thành nó muốn điều chỉnh mô hình đó cho “mềm hơn”, có hiệu quả kinh tế hơn, dân chủ hóa đời sống xã hội và sinh hoạt đảng. Gắn liền với điều đó, về mặt quốc tế, một bên vẫn giữ con đường đấu tranh bạo lực chống đế quốc, mở rộng các cuộc cách mạng ra các khu vực khác nhau trên thế giới. Còn một bên thì chủ trương thi đua kinh tế, chung sống hòa bình giữa hai hệ thống, chuyển biến hòa bình lên chủ nghĩa xã hội. Lúc đầu, ĐCSVN về cơ bản tán thành những lập trường của ĐCSTQ, cuộc đấu tranh chống “chủ nghĩa xét lại hiện đại” diễn ra một cách quyết liệt về mặt tư tưởng và chính trị, và sử dụng cả những công cụ chuyên chính vào mục đích này. Về sau, khi đã thống nhất được đất nước, khi đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế ngày càng nghiêm trọng, thì chính ĐCSVN chuyển sang tiếp nhận “mô hình Xô Viết” có điều chỉnh. Nhưng sự chuyển hướng này không đủ để cứu vãn tình trạng khủng hoảng của đất nước. Chính bản thân Liên Xô, với mô hình có điều chỉnh ấy, cũng rơi vào tình trạng trì trệ và suy thoái nặng nề. Cuối cùng thì ĐCSTQ từ cuối những năm 70 cũng phải vất bỏ mô hình cũ, chuyển sang đường lối cải cách và mở cửa, vượt xa “mô hình Xô Viết” có điều chỉnh rất nhiều, đến mức dung nạp nhiều yếu tố cơ bản của kinh tế tư bản chủ nghĩa và họ làm điều đó không úp mở (một số nhà nghiên cứu nước ngoài đã mỉa mai đọc “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” thành “chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc” hoặc “chủ nghĩa tư bản mang nhãn hiệu chủ nghĩa xã hội”). Đến lượt ĐCSVN, bằng đường lối “đổi mới”, về thực chất cũng như trên thực tế cũng từ bỏ “mô hình Xô Viết” dù là kiểu Stalin hay kiểu “có điều chỉnh”. Đến đây, thật sự đang diễn ra một cuộc khủng hoảng tư tưởng; và lý luận. Không phải mô hình cũ, chắc chắn là thế rồi. Nhưng mô hình mới của chủ nghĩa xã hội là thế nào thì chưa có ai trả lời được cả. Thành thử, khi sự vận động xã hội và kinh tế của xã hội Việt Nam hiện nay trên thực tế đang chuyển sang một quỹ đạo khác, dần dần rời bỏ những nền tảng lý luận về chủ nghĩa xã hội theo cách hiểu Mác-Lênin, thì trong những người cộng sản Việt Nam, nhất là trong giới nghiên cứu lý luận, người ta thấy rõ một sự phân hóa ngày càng sâu sắc. Một số người muốn đoạn tuyệt với lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, đi tìm một thứ lý luận thích hợp hơn và có hiệu quả hơn. Số người này cũng chia làm hai “có người muốn trở về nguồn (Mác-Lênin hoặc Mác mà không phải Lênin), và có người muốn đoạn tuyệt về cơ bản với cả Lênin lẫn Mác. Một số những người khác coi những đổi mới hiện nay chỉ là “sách lược tạm thời”, là một sự “rút lui” cần thiết trước khi chuyển sang một (hoặc nhiều) cuộc “tiến công” mới, để trở lại với những nền tảng của mô hình cũ (chuyên chính vô sản, sở hữu nhà nước và tập thể…). Một số người khác nữa muốn làm một sự “hội tụ” của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, tìm thấy trong chủ nghĩa xã hội-dân chủ những yếu tố cần thiết cho “con đường thứ ba”. Cuộc đấu tranh về mặt lý luận này chắc chắn còn kéo dài và chừng nào chưa đi tới kết cục rõ ràng, chừng đó sự vận động xã hội vẫn gặp nhiếu trắc trở, nhiều bước vòng quanh, nhiều dạng nửa vời. Nhưng thực tiễn những năm “đổi mới” vừa qua cũng cho thấy một hướng ngược lại: chính từ sự vận động hiện thực của xã hội, đang và sẽ nảy sinh ngày càng nhiều yếu tố đúng và cần cho sự giải quyết tình trạng khủng hoảng lý luận.&lt;br /&gt;&lt;span style="color: blue;"&gt;&lt;strong&gt;IV. Những hệ quả của sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam cho đến nay&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Trong những phần trên đây, đã trình bày phần nào về hệ quả ấy, ở đây xin nói rõ thêm: chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam với tư cách một thứ lý luận, một học thuyết được những người cộng sản Việt Nam coi là “cách mạng” và “khoa học” để giải quyết hai vấn đề được đặt ra từ những năm 20, giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Đối với những người cộng sản giải phóng dân tộc là tiền đề bắt buộc phải có để làm cách mạng xã hội, đồng thời cũng là một mục tiêu mang giá trị tự thân trong hoàn cảnh một nước thuộc địa. Cách mạng xã hội là lý tưởng cổ vũ cho giải phóng dân tộc, đồng thời là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Lời tựa viết cho bản tiếng Nga quyển “Hồ Chí Minh, Những bài viết và nói chọn lọc” 1959, do chính Hồ Chí Minh gạch dưới, Tuyển tập Hồ Chí Minh, NXB Sự thật 1960, tr. 705). Hay như sự tổng kết của đại hội IV về hai ngọn cờ do ĐCSVN luôn luôn giương cao: Độc lập dân tộc và “yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội là một”.&lt;br /&gt;Thực tế lịch sử cho thấy một bức tranh khác thế. Một mặt đúng là chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp cho những người cộng sản Việt Nam những điều kiện và sức mạnh mới trong đấu tranh giải phóng dân tộc, như đã phân tích khá kỹ ở phần trên. Phủ nhận điều đó (nếu muốn, có thể dùng mấy chữ “cống hiến đó” hay “cống hiến to lớn đó”) là phủ nhận một mảng quan trọng của sự thật lịch sử đất nước. Nhưng cũng sẽ sai lầm khi quy tất cả những thắng lợi của giải phóng dân tộc cho chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong mọi giai đoạn đấu tranh cho độc lập dân tộc, không thể đánh giá thấp những đóng góp của những bộ phận yêu nước khác. Tinh thần yêu nước là tài sản chung của dân tộc, không phải của riêng ai. Tinh thần yêu nước ấy được hun đúc từ trong chiều sâu xa xưa của lịch sử đất nước, và trực tiếp hơn, cả từ những phong trào yêu nước đầu thế kỷ. Những phong trào ấy nói chung gặp thất bại, nhưng cả những thất bại ấy cũng không làm lu mờ những hình ảnh của họ trong ký ức người dân. Lớp trẻ chúng tôi vào những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945 thấy lòng mình rung động vì một hình ảnh Phan Bội Châu không kém gì hình ảnh của Nguyễn Ái Quốc. Lòng yêu nước của chúng tôi chẳng những được dấy lên với những sách báo cách mạng, mà cũng được khuấy động bằng những Thi tù tùng thoại, Thơ văn các nhà chí sĩ Việt Nam… những ca khúc bi hùng Hồn tử sĩ, Kinh cầu nguyện, Bạch Đằng giang… Đó chỉ là một vài ví dụ. Còn biết bao đóng góp có tên vào không tên c
